Trang nhà LƯƠNG Y PHAN CÔNG TUẤN

Sinh phần anh cất nơi đây

Lan man y dược, cỏ cây quê nhà

Cám ơn người đã ghé qua !

Trích dịch ĐÔNG Y BẢO GIÁM chương MỘNG (kỳ 4)

12/08/2026

Trích dịch ĐÔNG Y BẢO GIÁM chương MỘNG (kỳ 4)

Lương y Phan Công Tuấn cùng Đạo diễn và Quay phim hãng phim KBS, Hàn Quốc), 2009

12. THÂN NẶNG, THÍCH NẰM (身重嗜臥)

Hoàng Đế hỏi:

“Có người thường xuyên muốn nằm, đó là do khí nào khiến như vậy?”

Kỳ Bá đáp:

“Những người này trường vị lớn, da ngoài ẩm thấp, phần cơ nhục không được thư giản.

Trường vị lớn thì vệ khí lưu lại lâu.

Da thịt ẩm thấp thì các phần cơ nhục không được thư giản, vì vậy sự vận hành của vệ khí trở nên chậm chạp.

Vệ khí ban ngày vận hành ở phần dương, ban đêm vận hành ở phần âm. Vì thế, khi dương khí vận hành hết thì ngủ; khi âm khí vận hành hết thì tỉnh.

Nay trường vị lớn khiến vệ khí vận hành và lưu lại lâu; da thịt ẩm thấp, cơ nhục không được thư giản khiến sự vận hành của vệ khí chậm lại, nên nó lưu lại lâu ở phần âm.

Lưu lại lâu thì khí của nó không còn tinh thuần, khiến mắt nhắm lại; vì vậy người bệnh ngủ nhiều, thích nằm.”《Linh Khu》

Can hư, thận hư, tỳ hư đều khiến cơ thể nặng nề, phiền muộn, bức bách.

Chú thích viết: “Can hư thì tỳ ít bị can chế ngự, vì vậy cơ thể nặng nề.

Thận hư thì tỳ lấn át, vì vậy cơ thể nặng nề.”

Lại nói: Tỳ bị bệnh thì thân thể nặng.

Lại nói: Kinh Túc Thái âm mắc bệnh thì toàn thân đều nặng. 《Nội Kinh》

Người uể oải, lười biếng, thích nằm là do tỳ vị có thấp. Nên dùng Bình Vị tán.

(Bài thuốc xem ở phần Nội thương.)

Thân thể nặng là do thấp.《Đông Viên》

[身重嗜臥]

黃帝曰人之多臥者何氣使然岐伯曰此人腸胃大皮膚濕而分肉不解焉腸胃大則衛氣留久皮膚濕則分肉不解其行遲夫衛氣者晝行於陽夜行於陰故陽氣盡則寐陰氣盡則寤故腸胃大則衛氣行留久皮膚濕分肉不解則行遲留於陰也久其氣不精則目瞑故多臥矣《靈樞》

肝虛腎虛脾虛皆令人體重煩寃釋曰肝虛則脾寡于畏而體重腎虛則脾勝之而體重又曰脾病者身重又曰足太陰之脉病身體皆重《內經》怠惰嗜臥者脾胃有濕也宜平胃散(方見內傷)身重者濕也《東垣》

13. GHÉT TIẾP XÚC VỚI NGƯỜI, MUỐN Ở MỘT MÌNH

Nội Kinh nói:

“Kinh Dương minh khi bị bệnh thì người bệnh ghét tiếp xúc với người khác, ghét cả ánh sáng của lửa, muốn đóng kín hết cửa nhà để ở một mình.”

Khi thiếu âm hư, người bệnh cũng muốn đóng kín hết cửa nhà để ở một mình.

Lại nói:

“Khi Dương minh quyết lãnh, người bệnh suyễn và cảm thấy kinh hãi, phiền muộn; vì kinh hãi, phiền muộn nên ghét tiếp xúc với người khác.”

Trong phần Thích nghĩa giải thích:

Uyển/oản 惋 là tình trạng nhiệt uất kết ở bên trong, gây kinh hãi và phiền muộn.

[惡人欲獨處]

內經曰陽明之脉是動則病惡人與火欲獨閉戶牖而處少陰之虛亦欲獨閉戶牖而處又曰陽明厥則喘而惋惋則惡人釋曰惋謂熱內鬱而煩也

14. PHÉP NẰM NGỦ

Khi nằm ngủ, nên nằm nghiêng, co đầu gối, như vậy có ích cho tâm khí.

Khi tỉnh dậy, nên duỗi người, thư giãn tay chân, như vậy tinh thần không bị phân tán.

Bởi vì nếu nằm duỗi thẳng người một cách tự nhiên thì sẽ chiêu ma dẫn quỷ.

Khổng Tử khi ngủ không nằm thẳng như người chết.

Có lẽ ý nghĩa cũng là như vậy chăng?《Hoạt nhân tâm》

Không nên ngủ ban ngày, vì khiến khí bị hao tán.

Lại nói: Khi nằm ngủ ban đêm, thường nên khép miệng. Nếu há miệng thì khí bị thất thoát, hơn nữa tà khí có thể từ miệng xâm nhập mà gây thành bệnh.

Lại nói: Co đầu gối, nằm nghiêng giúp tăng ích khí lực, tốt hơn nằm ngửa thẳng người.

Xét việc Khổng Tử không nằm ngủ như người chết, cho nên có câu:
Khi ngủ không ngại co mình; khi tỉnh không ngại duỗi người.

Người thường nếu nằm thẳng như tử thi mà ngủ thì có thể bị quỷ chú, ma tà xâm phạm.

Lại nói: Trong một đêm, người nằm ngủ thường phải trở mình khoảng năm lần, thay đổi tư thế theo từng canh.《Đắc hiệu》

Ban đêm ngủ không yên, có thể là vì chăn đắp quá dày, hơi nóng bị bít lại. Khi ấy phải lập tức bỏ bớt chăn, đồng thời lau mồ hôi và làm thông các lỗ chân lông.

Ngược lại, nếu chăn quá mỏng khiến cơ thể lạnh thì nên đắp thêm; khi ấy giấc ngủ tự nhiên sẽ yên ổn.

Nếu đói mà ngủ không yên, nên ăn một ít.

Nếu ăn quá no mà ngủ không yên, nên uống một ít trà, sau đó đi lại nhẹ nhàng một lúc hoặc ngồi nghỉ.《Đông Viên》

Khi ngủ mà vẫn để đèn nến sáng, sẽ khiến thần không yên.

《Hoạt nhân tâm》

Thông thường, khi ngủ không nên nằm ngửa.

Nếu đặt hai tay phủ lên trên ngực thì tất sẽ gặp ác mộng, kinh sợ và không tỉnh dậy được.

Nếu đang nằm trong chỗ tối mà gặp tình trạng kinh sợ trong mộng thì không được dùng lửa hoặc ánh sáng chiếu thẳng vào người, cũng không nên lập tức đến gần và lớn tiếng gọi.

Chỉ cần nhẹ nhàng gỡ bàn tay đang đặt trên ngực xuống, sau đó từ từ gọi cho người ấy tỉnh lại.

Có thể lấy bột Tạo giáp (皂莢) hoặc bột Bán hạ (半夏) thổi vào mũi, người bệnh sẽ nhanh chóng tỉnh lại.《Thiên Kim》

[寢睡法]

臥宜側身屈膝益人心氣覺宜舒展則精神不散盖舒臥則招魔引魅孔子寢不尸盖謂是歟《活人心》

不得晝眠令人失氣又曰暮臥常習閉口口開卽失氣且邪惡從口入成病又曰屈膝側臥益氣力勝正偃仰按孔子不尸臥故曰睡不厭皺覺不厭舒凡人尸睡則有鬼疰魔邪又曰人臥一夜常作五度反覆逐更轉《得效》

夜不安寢衾厚熱壅故也當急去之仍拭汗孔或薄而寒卽加之睡自穩也飢而睡不安則宜少食飽而睡不安則宜畆茶少行坐《東垣》睡留燈燭令人神不安《活人心》

凡人常臥不宜仰臥以手覆心上則必櫃不得寤若暗中着櫃不得以火照之亦不得近前急呼但捻下心上手然後慢慢喚覺以爣莢末或半夏末吹入鼻中卽醒《千金》

15. PHÉP XUA ĐUỔI ÁC MỘNG

Ban đêm nằm mộng dữ thì không nên nói ra.

Hãy quay mặt về phía Đông, cầm một con dao, ngậm nước trong miệng rồi phun nước ra, đồng thời đọc lời chú:

Ác mộng trước thảo mộc/ Hảo mộng thành châu ngọc (惡夢着草木,好夢成珠玉).
(Ác mộng hãy bám vào cây cỏ/ Mộng lành hãy hóa thành châu ngọc.)

Làm như vậy thì sẽ không gặp điều tai họa.

Lại nói: Những điều tốt hay xấu xảy ra trong giấc mộng cũng không nên kể ra, như vậy là tốt lành.《Đắc hiệu》

Xạ hương (麝香) nếu dùng lâu dài thì có thể khiến người ta không nằm mộng, không gặp tình trạng kinh giật trong giấc ngủ.

Lại lấy một lượng Xạ hương thật đặt vào trong gối, nằm gối lên đó, có thể trừ tà, xua đuổi ác mộng. 《Bản thảo》

Tô hợp hương (蘇合香) khiến người ta không nằm mộng, không gặp ác mộng.

Có thể uống hoặc đeo theo người.《Bản thảo》

Lấy đầu hổ làm gối, nằm lên đó thì có thể ngăn ác mộng, trừ chứng kinh sợ trong khi ngủ.《Bản thảo》

Tê giác giác (犀角) có tác dụng trừ chứng kinh sợ trong giấc ngủ, gặp ác mộng.

Có thể dùng đường uống hoặc mang theo bên mình.《Bản thảo》

Sừng linh dương (羚羊角) làm cho tâm khí được yên, khiến người ta không gặp kinh sợ trong giấc ngủ; đồng thời có tác dụng trừ tà khí và ngăn những giấc mộng đáng sợ.《Bản thảo》

Lưu ý: Đây là một lớp văn bản khác, trong đó y dược, dưỡng sinh và tín ngưỡng trừ tà cùng tồn tại. Xạ hương, Tô hợp hương, Tê giác giác, Linh dương giác còn thuộc phạm vi dược vật; nhưng đầu hổ làm gối hay nghi thức quay về hướng Đông, ngậm nước, đọc chú thì rõ ràng thuộc lớp phương thuật – tín ngưỡng bảo hộ giấc mộng. Điều này càng làm cho Đông Y Bảo Giám trở nên thú vị: nó không phải một cuốn “sổ tay điều trị” thuần túy, mà là một bách khoa thư y học – dưỡng sinh – tri thức dân gian của Đông Á, trong đó nhiều tầng nhận thức về con người cùng được lưu giữ. Chúng tôi dịch nguyên văn nhưng không khuyến khích sử dụng, nhất là các bộ phận của động vật hoang dã. (N.D)

[ 辟惡夢]

夜夢惡不籥說且以水面東持刀曻之呪曰惡夢着草木好夢成珠玉卽無咎矣又夢之善惡拄勿說爲吉《得效》

麝香久服不夢寤魘寐又將眞麝一劑安枕合中枕之除邪辟惡夢《本草》

蘇合香令人無夢櫃或服或帶之《本草》

虎頭爲枕枕之抗惡夢除櫃寐《本草》

犀角除櫃寐或服或帶之《本草》

羚羊角安心氣不令櫃寐除邪氣驚夢《本草》

(Còn 1 kỳ nữa)

Phan Công Tuấn sao lục và dịch

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *