Trang nhà LƯƠNG Y PHAN CÔNG TUẤN

Sinh phần anh cất nơi đây

Lan man y dược, cỏ cây quê nhà

Cám ơn người đã ghé qua !

NGUYỄN AN CƯ- thuốc giỏi thơ hay, mát tay nuôi vợ

28/05/2026

Nguyễn An Cư (1877-1949) là một thầy thuốc giỏi nổi tiếng ở Hóc Môn nửa đầu thế kỷ XX, người mà theo Định Ninh Lê Đức Thiếp cho rằng nếu xếp hạng thì danh cụ là kế tiếp Nguyễn Đình Chiểu ở xứ (Nam bộ) này.  Cụ là thầy dạy nghề thuốc cho Lương y Nguyễn Trung Hòa vào những năm 1942-1945. Cụ có  biên soạn tập NAM DƯỢC BỘ giới thiệu khoảng 300 vị thuốc nam, trong đó phân nửa là cây thuốc của miền Nam, tuy chưa xuất bản nhưng từng dùng để dạy cho các thầy thuốc Nhật Bản hồi năm 1942-1943. Sau 1975, di cảo của Cụ được gia đình giao cho Lương y Nguyễn Trung Hòa thừa kế. Trong sách “Hiểu biết cơ bản về phương dược cổ truyền”, L.Y Nguyễn Trung Hòa có chọn giới thiệu 121 vị thuốc Nam theo tập NAM DƯỢC BỘ.

Nguyễn An Cư và bìa sách Ngoại Khoa Bí Quyết

Lúc chí sĩ Phan Chu Trinh mang bệnh từ Pháp về (1925), có đến điều trị mấy tháng tại nhà thầy thuốc nổi tiếng này. Khi ấy nhà báo Phan Khôi (1887-1959) vào thăm cụ Tây Hồ, thấy phòng mạch của Nguyễn An Cư có dán một bài thơ rằng: 

Khanh tướng làm chi khó lắm a !

Miễn cho thong thả đặng như già:

Sớm sang ghế hạc nhìn câu đối;

Tối lại phòng văn trổi khúc ca.

Mọi gỗ hai anh hầu trước cửa,

Phật sành ba vị giữ trong nhà.

Nếu ai sẵn có lòng tri túc,

Thì hãy gần đây bạn với ta.

Không ngờ bài thơ của thầy lang Nguyễn lại lọt vào mắt xanh của ông Tú Khôi nổi tiếng văn hay chữ tốt, là nhà báo cự phách, từng sắm vai “ngự sử văn đàn” lừng lẫy một thời, và là người mở đầu phong trào thơ mới sau này. Phan Khôi đã nhận xét về Nguyễn An Cư rằng “nghề thuốc của ông ta  có tiếng lấp mất nghề thơ”, và đã “đem bài thơ đó vừa trầm trồ vừa đọc cho người ta nghe”. Nhân đó Phan Khôi mới  được người ta  cho biết thêm một bài thơ khác đề là “Diễu vợ” của thầy lang Nguyễn:

Nửa bên Nam Việt, nửa bên Tàu,

Tác ước trung người chẳng thấp cao.

Ghế ỷ dựa lưng xiêu bốn cẳng,

Võng gai ghé đít đứt vài tao.

Đi ngang cửa sổ ngờ trời tối,

Đứng nép buồng trong tưởng đống bao.

Ai có năm trên từng thấy ả,

Ngày nay mới biết ả ra sao.

Phan Khôi đã có lời bình: “Bài này là một bài về thể khôi hài. Cả bài tả hình dạng một người đàn bà mập, đọc lên nghe phải tức cười. Mà giọng thơ nghe cũng êm êm nhẹ nhẹ như bài trên”. Riêng Lang Vè tôi, vốn rất ngưỡng mộ danh y Nguyễn An Cư,  đọc bài thơ trên, càng hết sức bái phục cụ, không chỉ ở tài “thuốc giỏi thơ hay”, mà còn cả ở khoản …“mát tay nuôi vợ”!

Ngoài hai bài thơ, sách “Chương Dân thi thoại” (tập hợp các bài bình thơ từ 1918, xuất bản 1936, NXB Đà Nẵng tái bản 1996) của Phan Khôi còn giới thiệu thêm hai câu đối “cũng rặt một giọng văn ấy” của thầy lang Nguyễn, xin chép lại đây để mua vui bạn đọc CTQ:

Một câu thờ bàn ông Táo ông Địa, ở giữa viết ngay bốn chữ “Ông Táo ông Địa”, còn hai bên kèm câu đối rằng:

Ít giấy hẹp hòi thờ một chỗ;

Giúp tôi giàu có bớ hai ông!

Một câu dán ở tiệm thuốc bắc:

Đau tiếc thân, lành tiếc của, thói ở bạc đã quen;

Mất lòng trước, được lòng sau, ai có tiền thì hốt.

LANG VÈ (Phan Công Tuấn)

(Đã đăng CTQ số 108/ tr.32, năm 2008)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *