Trang nhà LƯƠNG Y PHAN CÔNG TUẤN

Sinh phần anh cất nơi đây

Lan man y dược, cỏ cây quê nhà

Cám ơn người đã ghé qua !

SÂM NGỌC LINH QUẢNG NAM – Những con người và dấu mốc (KỲ 2)

05/08/2026

Cây Sâm Ngọc Linh tại Quảng Nam

NHỮNG CON NGƯỜI VÀ DẤU MỐC

(Kỳ 2)

Dược sĩ Đài Kim Long cùng đồng nghiệp phân tích tiêu bản Sâm Ngọc Linh tại Đà Nẵng

2. Ds Đào Kim Long – Người đưa Sâm Ngọc Linh ra ánh sáng

Ds Đào Kim Long tốt nghiệp Đại học Dược Hà Nội năm 1966. Anh được giữ lại Trường làm công tác giảng dạy tại Bộ môn Thực vật. Khoảng cuối năm 1971, đầu năm 1972, anh “đi B” vào chiến trường Khu 5. Tại đây, anh được phân công về Tổ Dược liệu thuộc Ban Dân Y Khu. Về sau, tổ này ghép với Trạm Kiểm nghiệm, mang tên Trạm Kiểm nghiệm – Dược liệu, thuộc Ban Dân y Khu và anh là trưởng Trạm này.(mật danh K65)

Cuối năm 1972, Ban Dân y Khu 5 quyết định cử một đoàn đi khảo sát, điều tra Dược liệu vùng núi Ngọc Linh (thuộc Kon Tum). Đoàn do Ds Đào Kim Long phụ trách và có 3 thành viên: Ks Nguyễn Bá Hoạt, Ds Nguyễn Châu Giang và Ds Trần Thanh Dân. Đoàn lên đường vào ngày 15/10/1972. Khi đến Kon Tum, do điều kiện thực tế, đoàn chia làm hai nhóm. Nhóm 1 là Ks Nguyễn Bá Hoạt và Ds Trần Thanh Dân, khảo sát ở vùng chân núi, nhóm 2 gồm Ds Đào Kim Long và Ds Nguyễn Châu Giang khảo sát ở vùng cao. Do vùng cao hiểm trở và có địa hình khó khăn hơn, nên Y tế Kon Tum có cử cô Nguyễn thị Lê, là người thông thạo địa bàn, cùng đi để hỗ trợ.

Ngày 19/3/1973, nhóm phát hiện ra cây Sâm đầu tiên. Sau đó, nhóm dùng 15 ngày để khảo sát khu vực phân bố, ghi chép các đặc điểm về phân loại, chụp ảnh, thu mẫu vật làm tiêu bản cây và thu một lượng mẫu thân rễ, củ.

Ngày 8/6/1973, thay mặt đoàn, Ds Đào Kim Long đã có báo cáo đầy đủ với Ban Dân Y Khu. Trong báo cáo, với kiến thức về phân loại thực vật, Ds Đào Kim Long khẳng định cây này thuộc chi Panax, cùng chi với cây Nhân sâm Triều tiên (Panax ginseng C. A May, họ Ngũ Gia bì Araliaceae). Anh mạnh dạn đặt tên khoa học cho nó là Panax articulatus K . L. Dao. Cùng với báo cáo là các tiêu bản cây khô, các ảnh chụp và 3 kg thân rễ, củ khô. (sau này được chuyển ra Bộ Y tế). Sau báo cáo ở Ban Dân y là báo cáo với Khu Ủy khu 5. Khu ủy đã có chỉ đạo không phổ biến rộng rãi thông tin, giao cho Xưởng Dược Trung trung bộ khai thác và nghiên cứu việc chế ra thuốc và sử dụng tên gọi là Sâm K5 (tên Sâm K5 xuất phát từ đây).

Báo cáo này có những điểm mới:

  • Lần đầu tiên, đi sâu về khoa học phân loại thực vật, với các bằng chứng cụ thể, đã khẳng định cây thuộc chi Panax – một “anh em” rất gần với Sâm Triều tiên (có rất nhiều Dược liệu mang tên Sâm, nhưng không có họ hàng gì với Nhân Sâm cả, như Đảng Sâm (Codonopsis pilosula – Họ Hoa chuông- Campanulaceae), Sâm Bố chính (Hibiscus sagittifolius, Họ Bông- Malvaceae), Sâm cau (Curculigo orchioides , Họ Sâm cau-Hypocydaceae), Sâm Đại hành (Eleutherine subaphylla, Họ Iridaceae)……
  • Lần đầu tiên chỉ ra rằng, phân bố của chi Panax có ở vĩ tuyến 15. Trước báo cáo này, các nhà nghiên cứu cho rằng chi Panax chỉ tập trung ở vùng Đông Bắc Trung Quốc, Triều tiên, vùng Viễn đông của Nga và Bắc Mỹ, phân bố tự nhiên chủ yếu từ 34-48 vĩ độ Bắc. Việc phát hiện và khẳng định chi Panax có ở 15 vĩ độ Bắc, là một đóng góp mới trong nghiên cứu về phân bố tự nhiên của chi này trên thế giới. đã gợi mở và đưa đến những phát hiện mới tiếp theo về Sâm Lai Châu, Sâm Vân nam (cùng mang tên khoa học Panaxx vietnamensis fuscidiscus K. Komatsu. S.Zhu & S.Q.Cai).

Chính vì vậy, Ds Đào Kim Long được gọi là người đưa Sâm Ngọc Linh ra ánh sáng.

Ds. Đào kKm Long (giữa) cùng điồng nghiệp bên lề một Hội thảo Sâm Ngọc Linh. Ảnh: P.C.T

 3. Nguyễn Thới Nhâm (1932 – 2021) – Người đầu tiên nghiên cứu thành phần hóa học

TSKH. Nguyễn Thới Nhâm tham gia vào ngành Quân dược trong kháng chiến chống Pháp (1950) với vai trò là Dược tá. Tập kết ra Bắc, anh được theo học Đại học và tốt nghiệp năm 1962. Cuối năm 1964, anh “đi B”, vào Ban Dân Y Khu 5 và được giao làm Xưởng trưởng Xưởng Dược Trung Trung bộ. Công tác ở chiến trường được 6 năm, tháng 2/1971, anh được cho ra Bắc chữa bệnh và học tập. Đầu năm 1975, anh được sang Ba Lan học tập theo chế độ Thực tập sinh.

Để khảo sát, xây dựng đề cương trước khi sang Ba Lan, đầu năm 1973, Ds Nguyễn Thới Nhâm đã đem Sâm K5 đến Viện Dược liệu (Bộ Y tế) để thực hiện dưới sự hướng dẫn của Gs Nguyễn Văn Bàn. Công việc chủ yếu là chọn các hệ dung môi tối ưu để phân tích, đánh giá sơ bộ về thành phần Saponin của thân rễ Sâm K5, bằng Sắc ký lớp mỏng (SKLM), có so sánh với Sâm Triều tiên, Tam thất, đánh giá sơ bộ Hàm lượng các chất. Lúc đó, GS Nguyễn văn Bàn có đưa ra nhận xét “Đây có thể là loài Sâm quý hơn Sâm Triều tiên” Trên cơ sở đó, anh đã xây dựng đề cương chi tiết để thực hiện tại Ba Lan. Năm 1976 anh đã báo cáo Đề tài nghiên cứu và được công nhận học vị Phó Tiến sĩ (sau này, Việt Nam thống nhất gọi là Tiến sĩ). Tại bài báo đăng trên Tạp chí Herba Polonica (Lutomski J. Nguyen T. N. Herba Polonica 23-27 (1976)). Bước đầu cho thấy thành phần hợp chất saponin trong rễ Sâm K5 tương đồng với các hợp chất saponin được phân lập từ rễ Sâm Triều tiên trên sắc ký lớp mỏng. Đến năm 1990 các tác giả đã công bố 5 chất Saponin được phân lập và xác định cấu trúc là G-Rb1, -Rd, -Rg1, Majonosid R2 và Pseudoginenosid RT4. Đây là các chất Saponin lần đầu tiên được phân lập từ Sâm K5 (Nham N. T. Herba Polonica Tom XXXV, 1989). Như vậy, Ts Nguyễn Thới Nhâm là người đầu tiên nghiên cứu thành phần hóa học của Sâm K5 và xác định được cấu trúc của 5 chất.

Sau khi trở về Việt Nam, Ts Nguyễn Thới Nhâm tiếp tục gắn bó với Sâm K5. Anh tham gia thành lập và phụ trách Đơn vị nghiên cứu Sâm K5 (Vào những năm 70 của thế kỷ trước, hình thức tổ chức Đơn vị nghiên cứu chuyên đề được Bộ Y tế sử dụng, như: Đơn vị nghiên cứu Kháng sinh và xạ khuẩn do Gs Trương Công Quyền phụ trách, Đơn vị nghiên cứu Tinh dầu do Gs Đỗ Tất Lợi phụ trách, Đơn vị nghiên cứu Nước khoáng do Gs Hà Như Phú phụ trách). Đơn vị nghiên cứu Sâm K5, sau này được đổi tên thành Trung tâm Sâm Việt Nam, do Ts Nguyễn Thới Nhâm làm Giám đốc. Anh cũng đồng thời là Phó chủ nhiệm Bộ môn Dược liệu, Trường Đại học Y-Dược TP. HCM.

Trong thời gian này, Ts Nguyễn Thới Nhâm đã chỉ đạo, triển khai nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về cây Sâm K5 (Sâm Việt Nam) trên các mặt như:  điều tra trữ lượng, trồng trọt và phát triển, thành phần hóa học trong các bộ phận của cây, các tác dụng dược lý, nuôi cấy mô và các chế phẩm từ Sâm Ngọc Linh. Qua đó TS. Nguyễn Thới Nhâm đã bảo vệ thành công luận án TSKH tại Ba Lan năm 1990.

Nhiều học trò của ông đã công bố nhiều công trình nghiên cứu và đã nhận học vị Tiến sĩ.

Đến nay, nhiều công trinh nghiên cứu về thành phần hóa học của Sâm Việt Nam đã được công bố, nhưng TSKH. Nguyễn Thới Nhâm là người đầu tiên ở lĩnh vực này (1976)

Ông là người say mê với cây Sâm Việt Nam, người trong ngành có khi gọi đùa ông là “Ông Sâm K5”, còn Báo Sài Gòn Giải phóng (SGGP) thì gọi ông là “Bà đỡ” Sâm Ngọc Linh (SGGP – 23/4/2008).

PGS.TS.Nguyễn Thới Nhâm (Ảnh phục chế từ báo SGGP)

4. Ts Hà thị Dụng  – Người định danh Tên khoa học

Khi mới phát hiện vào năm 1973, Ds Đào Kim Long đặt cho nó tên khoa học là Panax articulatus K . L. Dao. Sau đó cũng có người đề nghị đặt tên là Panax ginseng var. K5. Tuy nhiên, các tên đó, giới chuyên gia về Thực vật và Dược liệu có phân tích và thấy có những điểm chưa phù hợp và chưa chấp nhận. Mãi đến năm 1985, sau công bố của Ts Hà thị Dụng, tên khoa học của Sâm Ngọc Linh mới chính thức được xác nhận. (Dung H. T, Grushvisky I. V. – A new species of the genus Panax in Vietnam: Panax vietnamensis Ha et Grushv – Bot. J. Vietnam. 70. 518-522).

Ts Hà thi Dụng là nghiên cứu viên, công tác ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (thuộc Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam). Năm 1985 chị đem các mẫu cây Sâm Ngọc Linh do Viện thu thập được cùng với tiêu bản mẫu chuẩn (Typus) và các số liệu thực vật học của Trung tâm Sâm Việt Nam (Bộ Y tế) sang nghiên cứu tại Viện Thực vật mang tên Komarov (Liên bang Nga). Tại đây, chị cùng với các nhà khoa học thực vật Nga (trực tiếp là Ông I. V. Grushvistky) nghiên cứu, xác định Tên khoa học. Các tác giả xác định đây là một loài mới trong 20 loài Panax đã biết và đặt tên cho nó là Panax vietnamensis Ha et Grushv. Tên này được công bố chính thức từ năm 1985, đánh dấu việc Sâm Ngọc linh chính thức mang tên khoa học theo quy ước quốc tế.

(Còn nữa)

Tác giả: DS. Đống Việt Thắng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *