Chẩn đoán phân biệt chứng trạng MẤT NGỦ
09/08/2026

I. KHÁI NIỆM
Mất ngủ hay Bất mị (不寐) là tình trạng giấc ngủ bị giảm sút kéo dài, biểu hiện bằng một hoặc nhiều dạng: khó đi vào giấc ngủ, ngủ không sâu và dễ tỉnh, tỉnh rồi không ngủ lại được, thậm chí hoàn toàn không ngủ suốt đêm.
Trong Nội Kinh (《内经》), chứng này được gọi là “mục bất minh” (目不瞑 – mắt không nhắm được), “bất đắc miên” (不得眠 – không thể ngủ), “bất đắc ngọa” (不得卧 – không thể nằm ngủ).
Nạn Kinh (《难经》) bắt đầu dùng tên “bất mị” (不寐); Trung Tàng Kinh (《中藏经》) gọi là “vô miên” (无眠); Ngoại Đài Bí Yếu (《外台秘要》) gọi là “bất miên” (不眠); Thánh Tế Tổng Lục (《圣济总录》) gọi là “thiểu thụy” (少睡 – ngủ ít); Thái Bình Huệ Dân Hòa Tễ Cục Phương (《太平惠民和剂局方》) dùng tên “thiểu miên” (少眠). Trong y học hiện nay thường gọi là thất miên (失眠 – mất ngủ).
Những trường hợp chỉ thỉnh thoảng mất ngủ do thời tiết nóng lạnh thất thường, mặc quá lạnh hoặc quá nóng, uống trà đặc, cà phê và các thức uống kích thích trước khi ngủ; hoặc do kích thích tinh thần, suy nghĩ quá mức mà nhất thời không ngủ được, không được xem là bệnh lý.
Những trường hợp mất ngủ do đau nhức, ho suyễn, ngứa ngáy… cũng không thuộc phạm vi bàn luận của chứng Bất mị này, mà cần tham khảo các mục bệnh tương ứng.
II. BIỆN CHỨNG
Các thể bệnh thường gặp
1. Mất ngủ do Tâm âm hư (心阴亏虚不寐)
Khó đi vào giấc ngủ, tim hồi hộp, bứt rứt, nhiều mộng, hay quên; có sốt cơn, mồ hôi trộm, lòng bàn tay bàn chân nóng; miệng khô, họng khô; lưỡi đỏ, ít tân dịch; mạch tế sác.
2. Mất ngủ do Tâm thận bất giao (心肾不交不寐)
Khó ngủ, nặng thì suốt đêm không ngủ được; chóng mặt, ù tai, triều nhiệt, đạo hãn, ngũ tâm phiền nhiệt, hay quên, nhiều mộng; đau mỏi lưng gối, di tinh; lưỡi đỏ, ít rêu; mạch tế sác.
3. Mất ngủ do Tâm tỳ lưỡng hư (心脾两虚不寐)
Mất ngủ, nhiều mộng, dễ tỉnh; sắc mặt kém tươi; cơ thể mệt mỏi, hơi thở ngắn, ngại nói; hồi hộp, hay quên; ăn ít, phân lỏng; lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng trắng; mạch tế nhược.
4. Mất ngủ do Đởm hư khí khiếp (胆虚气怯不寐)
Sợ hãi, không dám ngủ một mình, ngủ chập chờn, rất dễ tỉnh, giống như có người sắp bắt mình; trong lòng thấp thỏm, hồi hộp; chóng mặt, hoa mắt; hay thở dài; có thể buồn nôn hoặc nôn ói; lưỡi nhạt, rêu trắng; mạch tế nhược và hoãn.
5. Mất ngủ do Can kinh uất nhiệt (肝经郁热不寐)
Nằm ngủ không yên, nhiều mộng, dễ tỉnh; bứt rứt, dễ nổi giận; ngực sườn đầy tức; hay thở dài; miệng đắng, mắt đỏ; tiểu tiện ngắn, đỏ; lưỡi đỏ, rêu vàng; mạch huyền sác.
6. Mất ngủ Đàm nhiệt nhiễu tâm (痰热扰心不寐)
Nằm ngủ không yên, nhiều mộng, dễ tỉnh; tâm phiền bất an; ngực đầy tức, nhiều đờm, buồn nôn hoặc muốn nôn; miệng đắng, dính; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt; mạch hoạt sác.
7. Mất ngủ Tâm hỏa cang thịnh (心火亢盛不寐)
Mất ngủ nhiều, nhiều mộng; trong ngực phiền nhiệt; hồi hộp, bứt rứt; mặt đỏ, miệng đắng; miệng lưỡi sinh mụn hoặc loét; tiểu tiện ngắn, đỏ, có thể đau; lưỡi đỏ; mạch sác hữu lực.
8. Mất ngủ Dư nhiệt nhiễu cách (余热扰膈不寐)
Khó đi vào giấc ngủ, ngồi nằm đều không yên, hư phiền bất định; ngực đầy tức, có cảm giác cồn cào, khó chịu như đói nhưng không phải đói; lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng; mạch tế sác.
III. PHÂN TÍCH BIỆN CHỨNG
1. Tâm âm hư và Tâm thận bất giao
Tâm âm hư mất ngủ và Tâm thận bất giao mất ngủ đều thuộc loại mất ngủ do âm hư, nhưng nguyên nhân khác nhau:
- Tâm âm hư là do tâm âm bị hao tổn.
- Tâm thận bất giao là do thận âm không đủ.
Tâm âm hư mất ngủ là do tâm âm không đủ, tâm dương thiên thịnh, âm không thể chế ước dương, thần không yên, nên khó ngủ.
Điểm chủ yếu để phân biệt là: khó ngủ, nhiều mộng, dễ tỉnh, hồi hộp, hay quên, miệng khô, đạo hãn, ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sác.
Tâm thận bất giao mất ngủ là do lao nhọc nội thương, làm tổn thương thận âm; thận âm hư không thể giao thông với tâm, khiến tâm hỏa độc thịnh ở trên, không thể giáng xuống thận; thủy hỏa tâm thận không tương tế mà sinh bệnh.
Như Cổ kim y thống (《古今医统》) nói: “Có nguyên nhân là thận thủy không đủ, chân âm không thăng lên, mà tâm hỏa đơn độc cang thịnh, khiến không ngủ được.”
So với tâm âm hư mất ngủ, điểm phân biệt của tâm thận bất giao là: ngoài các biểu hiện âm hư, chứng trạng thường nặng hơn, có thể nằm xoay trở, thức trắng đêm, kèm chóng mặt, ù tai, đau mỏi lưng gối, di tinh và các biểu hiện khác của thận âm hư.
Điều trị tâm âm hư mất ngủ: lấy tư dưỡng tâm âm, dưỡng tâm an thần làm chủ; dùng Thiên Vương Bổ Tâm Đan gia giảm.
Điều trị tâm thận bất giao mất ngủ: nên tư bổ thận thủy, giáng tâm hỏa, giao thông tâm thận; có thể chọn Hoàng Liên A Giao Thang hợp Giao Thái Hoàn gia giảm.
Lãnh Lư Y Thoại (《冷庐医话》) chủ trương dùng Bán Hạ, Hạ Khô Thảo để giao thông tâm thận; cũng có thể phối hợp.
2. Tâm tỳ lưỡng hư và Đởm hư khí khiếp
Hai chứng này đều thuộc hư chứng, nhưng:
- Tâm tỳ lưỡng hư: tâm tỳ khí huyết bất túc.
- Đởm hư khí khiếp: đởm khí hư.
Tâm tỳ lưỡng hư
Do suy nghĩ quá mức, lao nhọc làm tổn thương tâm tỳ; tỳ khí hư yếu, nguồn sinh hóa khí huyết không đủ, huyết không dưỡng được tâm, khiến tâm thần không yên mà sinh mất ngủ.
Loại chứng trị tài (《类证治裁》) nói: “Suy nghĩ làm tổn thương tỳ, tỳ huyết khí bị tổn thương, lâu ngày không ngủ được.”
Ngoài mất ngủ, còn có:
- hồi hộp, hay quên;
- chân tay mệt mỏi;
- tinh thần uể oải;
- sắc mặt kém tươi;
- ăn uống kém ngon.
Đây là những biểu hiện của huyết hư.
Điều trị: kiện tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần.
Có thể dùng Quy Tỳ Thang; hoặc Bát Trân Thang gia Toan Táo Nhân sao, Viễn Chí, Phục Thần…
Đởm hư khí khiếp
Thường do kinh sợ đột ngột, làm tổn thương đởm khí, khiến đởm mất khả năng chủ quyết đoán, vì vậy sinh sợ hãi và không thể ngủ.
Đặc điểm là:
- kinh sợ, không dám ngủ một mình;
- ngủ chập chờn, dễ tỉnh;
- chóng mặt, hoa mắt;
- trong lòng thấp thỏm, sợ hãi.
Điều trị: ôn đởm, ích khí, an thần; có thể dùng Ôn Đởm Thang, các phương Ích Đởm hoặc Vô Ưu Thang tùy chứng.
3. Can đởm uất nhiệt và Đàm nhiệt nhiễu tâm
Hai chứng đều thuộc thực chứng, nhiệt chứng:
- Can đởm uất nhiệt: can đởm khí uất hóa hỏa.
- Đàm nhiệt nhiễu tâm: đàm nhiệt tích tụ, quấy nhiễu tâm thần.
Can đởm uất nhiệt
Do tức giận làm tổn thương can, can khí mất chức năng điều đạt, sơ tiết, uất lâu hóa hỏa.
Hoặc do ăn uống, rượu bia không điều độ, thấp nhiệt tụ ở can đởm, tích lâu hóa hỏa.
Hỏa nhiệt bốc lên, nhiễu loạn thần minh, khiến tâm thần bất an, vì vậy nằm ngủ không yên, nhiều mộng, dễ tỉnh.
Can đởm khí uất biểu hiện:
- phiền táo, dễ giận;
- ngực sườn đầy tức;
- thở dài thì dễ chịu.
Khi khí uất hóa hỏa:
- miệng đắng;
- mắt đỏ;
- tiểu vàng;
- lưỡi đỏ;
- mạch sác.
Điều trị: thanh nhiệt tả hỏa, an thần.
Có thể dùng Long Đởm Tả Can Thang, Thanh Đởm Trúc Như Thang gia Long Xỉ, Trân Châu Mẫu, Từ Thạch…
Đàm nhiệt nhiễu tâm
Do tỳ vận hóa không tốt; hoặc ăn nhiều đồ béo ngọt, khiến thấp tụ thành đàm rồi hóa nhiệt.
Cũng có thể do nhiệt tà xâm nhập vào trong, làm hao tổn tân dịch, tân dịch bị đốt cháy kết lại thành đàm; đàm nhiệt quấy nhiễu tâm thần.
Đặc điểm của mất ngủ cũng là:
- nằm ngủ không yên;
- nhiều mộng, dễ tỉnh;
- phiền táo bất an;
nhưng nhất thiết phải có biểu hiện đàm nhiệt, như:
- ngực đầy tức, nhiều đờm;
- buồn nôn, muốn nôn;
- mạch hoạt sác.
Phân biệt với can đởm uất nhiệt:
| Can đởm uất nhiệt | Đàm nhiệt nhiễu tâm |
| Dễ giận, phiền táo | Nhiều đờm, ngực đầy |
| Ngực sườn đầy tức | Buồn nôn, muốn nôn |
| Miệng đắng, mắt đỏ | Miệng đắng, dính |
| Mạch huyền sác | Mạch hoạt sác |
Can đởm uất nhiệt: thanh nhiệt tả hỏa, an thần; dùng Long Đởm Tả Can Thang, Thanh Đởm Trúc Nhự Thang gia giảm.
Đàm nhiệt nhiễu tâm: thanh nhiệt hóa đàm, an thần; dùng Hoàng Liên Ôn Đởm Thang, Đạo Đàm Thang gia giảm.
4. Tâm hỏa cang thịnh và Dư nhiệt nhiễu cách
Hai chứng cũng đều là thực chứng, nhiệt chứng.
Tâm hỏa cang thịnh
Do phiền lao làm tổn thương tâm, tâm hỏa đơn độc cường thịnh, tâm thần không giữ được, vì vậy mất ngủ nhiều, nhiều mộng, kèm cảm giác nóng bứt rứt trong ngực.
Tâm hỏa thượng viêm:
- mặt đỏ;
- miệng đắng;
- miệng lưỡi sinh mụn, loét.
Tâm di nhiệt xuống tiểu trường:
- tiểu tiện ngắn, đỏ;
- có thể đau rát.
Điều trị: thanh tâm an thần.
Dùng Đạo Xích Tán phối Chu Sa An Thần Hoàn.
Dư nhiệt nhiễu cách
Thường xuất hiện ở giai đoạn sau của bệnh nhiệt, khi nhiệt tà còn sót lại vùng cách mô chưa được thanh trừ hoàn toàn. Dư nhiệt quấy nhiễu tâm thần khiến:
- ngồi nằm không yên;
- mất ngủ;
- trong lòng phiền;
- ngực đầy;
- có cảm giác ào ạch, khó chịu như đói.
Điều trị: thanh nhiệt trừ phiền.
Có thể dùng Trúc Diệp Thạch Cao Thang, Chi Tử Đậu Thị Thang.
IV. TỔNG KẾT BIỆN CHỨNG
Nói chung, chứng mất ngủ có sự khác nhau giữa hư và thực, khi lâm sàng cần trước hết phân biệt hư – thực.
- Mất ngủ thuộc hư chứng
Thường do chính khí bất túc, bệnh diễn tiến từ từ.
Có thể do:
- huyết hư;
- âm hư;
- khí hư.
Trong đó âm huyết hư là thường gặp hơn.
Nguyên tắc điều trị là:
Phù chính làm chủ, đồng thời an thần.
- Mất ngủ thuộc thực chứng
Thường do tà khí quấy nhiễu tâm thần.
Bệnh thường khởi phát tương đối đột ngột, biểu hiện:
- khó đi vào giấc ngủ;
- nằm ngủ không yên;
- phiền táo.
Cần tiếp tục phân biệt nguyên nhân là:
- hỏa nhiệt;
- tâm hỏa;
- đàm nhiệt…
Nguyên tắc điều trị:
Thanh nhiệt tả hỏa, thanh nhiệt hóa đàm; tà được loại trừ thì thần tự yên.
V. TRÍCH DẪN Y VĂN
“Mất ngủ tuy bệnh có nhiều loại, nhưng chỉ cần hiểu hai chữ ‘tà – chính’ thì có thể bao quát được. Vốn dĩ giấc ngủ lấy âm làm gốc, thần là chủ. Thần an thì ngủ được, thần không an thì không ngủ được. Sở dĩ thần không an, một là do tà quấy nhiễu, hai là do doanh khí không đủ. Có tà thì phần nhiều là thực chứng; không có tà thì phần lớn là hư chứng.”
(Cảnh Nhạc Toàn Thư – Bất mị)
“Nguyên nhân gây mất ngủ rất nhiều: có trường hợp âm hư không thể tiếp nạp dương; có trường hợp dương cang không thể nhập vào âm; có trường hợp đởm nhiệt; có trường hợp can dụng bất túc; có trường hợp tâm khí hư; có trường hợp tâm dịch hư; có trường hợp mạch không điều hòa; có trường hợp đàm ẩm quấy nhiễu tâm.”
(Ôn Bệnh Điều Biện – Hạ Tiêu thiên)
Trích 中医症状鉴别诊断学 tr. 109-110, NXB Vệ sinh Nhân dân, 2023
Lý Văn Thụy – Cao Vinh Lâm soạn
(Phan Lang chuyển ngữ, có dùng A.I)


Bài viết mới nhất
Ứng dụng Google store
Cây thuốc Đà Nẵng
Lượt truy cập
- Đang online: 0
- Hôm nay: 20
- Tất cả: 73024
