Trang nhà LƯƠNG Y PHAN CÔNG TUẤN

Sinh phần anh cất nơi đây

Lan man y dược, cỏ cây quê nhà

Cám ơn người đã ghé qua !

NGÀY XUÂN, ĐỌC LẠI BÀI THƠ VIẾNG CHÙA 244 NĂM TRƯỚC

26/02/2026

Đầu năm 2026 này, không đi chùa, nhưng ngồi đọc Thượng Kinh ký sự, tôi gặp lại một ngôi chùa cách đây 244 năm, nơi Hải Thượng Lãn Ông từng ghé qua vãn cảnh vào cuối năm 1782, ôi sao mà giống nhiều ngôi chùa hiện nay thế này ?

Nguyên bản khắc bạch họa白畫, do khắc nhầm trú晝 thành họa 畫. Bạch trú 白晝 cũng gọi bạch thiên 白天, nghĩa ban ngày, mới đúng nghĩa câu này.

Vừa sổ lồng “kinh kỳ”, Lãn Ông đã theo đường thủy về quê. Bấy giờ nước sông chảy xiết, thuyền nhẹ buồm xuôi, quá trưa thì đến Tuần Lãnh, rời thuyền lên bộ, vào chơi chùa Nguyệt-đường. Chùa ở trên núi, cổng kề bên đường cái, qua cổng tới cái ao bán nguyệt, xung quanh bờ ao cây cối um tùm. Hai bên sân có hai quả núi đất, trên mỗi bên núi dựng một cái gác chuông. Ở giữa là cung Phật. Điện rộng, nhà cao, đường, nào lầu, nào gác, đâu đâu cũng huy hoàng tráng lệ. Lan can quanh co, hoa thơm đua nở. Đi quanh qua thềm ghép đá trắng, nghìn cửa đối nhau, có một hành lang nối liền. Lãn Ông xem qua hồi lâu rồi than rằng: Kể các nơi chùa-chiền không đâu hơn đây được, thực là danh bất hư truyền! Nhưng sức người có hạn, làm sao bằng cảnh thiên nhiên kia vô cùng. Cho nên các bậc tao nhân mặc khách đều say mê cái cảnh núi rừng. Liền đề một bài thơ lên trên vách chùa. Cuối bài thơ có ghi chú thêm “Nói tuy u nhàn mà không có ý vị của lâm tuyền”.

Nguyên văn

半月池塘不二門,
重重楼閣擁前村。
迴廊疊出飛花路,
曲檻斜分種竹軒。
九品香燈凝白晝,
雙楼鍾鼓動黄昏。
松楸滿地留幽寂,
但恨庭無獻果猿。

Phiên âm

Bán nguyệt trì đường bất nhị môn,
Trùng trùng lâu các ủng tiền thôn.
Hồi lang điệp xuất phi hoa lộ,
Khúc hạm tà phân chủng trúc hiên.
Cửu phẩm hương đăng nghi bạch trú,
Song lâu chung cổ động hoàng hôn.
Tùng thu mãn địa lưu u tịch,
Đãn hận đình vô hiến quả viên.

Dịch nghĩa:

Ao hình bán nguyệt trước cổng chùa ghi chữ “Bất Nhị Môn”
Lầu gác lớp lớp ôm lấy xóm làng phía trước.

Hành lang quanh co nối tiếp mở ra lối hoa bay,
Lan can uốn khúc chia nghiêng hiên trồng trúc.

Đèn hương chín phẩm quyện đặc giữa ban ngày,
Chuông trống hai lầu vang động lúc hoàng hôn.

Lá thông và thu rụng đầy sân giữ lại vẻ u tịch,
Chỉ tiếc trong vườn chùa không có vượn dâng quả.

Dịch thơ

Qua ao bán nguyệt tới thiền quan,

San sát lâu đài ngất trước làng.

Dẫy trúc la đà theo khúc hạm,

Đường hoa quanh quất diễu hành lang.

Tháp chín tầng cao đèn sáng quắc,

Chuông hai gác đối tiếng kêu vang,

Cảnh cũng u nhàn chùa cũng tĩnh,

Quả dâng sao vắng vượn từng đàn.

Nguyễn Trọng Thuật dịch

Bài thơ dựng giàu hình ảnh nhịp điệu vẽ lên một bức tranh sinh động và đẹp đẽ. Từ không gian cảnh chùa đến thời gian sáng – trưa – chiều –tối, từ ngoài cổng có gắn chữ “Bất Nhị Môn” (cửa không hai, ý không phân biệt của giáo lý nhà Phật), đến vào trong chánh điện  hương đăng nghi ngút, chuông trống vang rền, từ kiến trúc lầu gác nguy nga, ao bán nguyệt, hành lang quanh co rợp hoa tươi trúc biếc, đến không gian vườn chùa cây cao bóng cả, lá rụng um tùm, đầy vẻ thanh vắng, nhàn tĩnh, u tịch.

Vậy mà hà cớ gì câu kết bài thơ tác giả lại cho rằng “Chỉ tiếc trong vườn không có vượn dâng quả”, và hạ thêm câu ghi chú như lời phê phán “Nói tuy u nhàn mà không có ý vị của lâm tuyền”, khiến người đọc không khỏi giật mình!

Thì ra dù cảnh vật nơi đây thì có ao bán nguyệt, có hành lang hoa bay, có trúc hiên, có hương đăng ban ngày, có chuông trống hoàng hôn, có thông thu u tịch…

Nhưng kia kìa, nào là núi đất đắp lên, nào gác chuông dựng trên đó, nào một quần thể kiến trúc lớn, tráng lệ, quy mô, nào hành lang mấy trăm cửa  công phu nhân tạo, …

Thì đó cũng chỉ là cảnh nhân tạo, không phải cái thiên nhiên tự nhiên. Cho nên cái “vô vị” –  cái dư vị tinh thần của ẩn sĩ, của người thực sự tiêu dao trong rừng suối – dường như vẫn còn thiếu.

Thì ra với người con đã gắn chặt đời mình với nghề Y nơi rừng núi Hương Sơn quê mẹ, vốn quen sống trong bầu không khí Lão Trang ẩn dật, thanh cao, thoát tục, với thần thái tiêu dao, siêu thoát, phong vị của người thực sự sống giữa rừng suối, hòa mình với thiên nhiên.

Đây là một thái độ rất cổ điển của văn nhân: tự biết cảnh đẹp chưa chắc đã thành “đạo vị”. Có thanh vắng chưa chắc đã có thiền vị.

Và cũng có thể hiểu sâu hơn: người làm thơ tuy tạm gửi mình nơi chùa cảnh, nhưng lòng vẫn còn vương trần thế – nên chưa thật sự đạt tới “lâm tuyền chi thú”.

Và cho dù cảnh vật  danh bất hư truyền – tiếng tăm quả không sai. Nhưng liền đó là một nhận xét rất quan trọng: “Cái cuộc nhân lực hữu hạn thì có bao giờ bằng cái vẻ thiên nhiên vô cùng được.”

Bởi vậy nhà thơ đã đặt câu kết bài thơ: “Chỉ tiếc trong vườn chùa không có vượn dâng quả”.

Bởi vậy nhà thơ còn giả thích thêm “tuy u nhàn mà không có ý vị lâm tuyền”.

Trong mỹ cảm Nho – Lão – Phật thời ấy, “lâm tuyền” không chỉ là có cây với nước; mà là cảnh nguyên sơ, không dụng công, không phô trương; là nơi thiên nhiên làm chủ, con người ẩn mình.

Đây chính là chìa khóa cho chúng ta hiểu được phần nào tâm hồn vị Y tổ Hải Thượng Lãn Ông kính yêu, cũng như lý do mà UNESCO, tổ chức Giáo dục Khoa học Văn hóa Liên hiệp quốc đã đồng vinh danh kỷ niệm 300 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Hữu Trác vào năm 2024.

Xin mời mọi người cùng đọc lại bài thơ qua bản dịch mới của một thầy lang vốn “Ghét những cảnh không đời nào thay đổi/ Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:/ Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng” (Thế Lữ).

Bán nguyệt ao cong trước cửa thiền,

Lầu son lớp lớp áp làng bên.

Hành lang tiếp nối hoa bày lối,

Hàng trúc uốn nghiêng tựa mái hiên.

Ngày đến hương đèn như khói tụ,

Hoàng hôn chuông trống rộn âm chen.

Đầy sân thông rụng dường thanh vắng,

Vượn đâu nào thấy cảnh thiên nhiên.

Phan Công Tuấn dịch

Mồng Mười tháng Giêng, năm Bính Ngọ, 2026

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *