Bên mộ cụ NGUYỄN DU và Bên mộ cụ LÃN ÔNG
15/06/2025
Người yêu thơ và hâm mộ tác giả Truyện Kiều, chắc nhiều người biết xuất xứ bài thơ “Bên mộ cụ Nguyễn Du” của nhà thơ Vương Trọng sáng tác năm 1982. Tuy nhiên giới Đông y Việt Nam ít ai biết từng có một bài thơ có xuất xứ gần tương tự cả về thời gian – không gian cũng như hoàn cảnh ra đời “Bên mộ cụ Lãn Ông” của Bác sĩ Lê Khắc Thiền, nguyên Viện trưởng Viện Đông y Hà Nội.

VỀ BÀI THƠ “BÊN MỘ CỤ NGUYỄN DU”
Trong bài viết “Quanh bài thơ “Bên mộ cụ Nguyễn Du”, tác giả Vương Trọng tường thuật cho biết (theo VanViet.info):
Tháng 3-1982, nhà thơ (lúc đó là biên tập viên mảng thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội) được Quân khu 4 mời vào dự hội diễn văn nghệ quần chúng toàn quân khu tổ chức ở TP. Vinh. Vương Trọng rất mê Truyện Kiều. Ông bảo, ông mang họ của Thúy Kiều, tên của chàng Kim. Vốn là dân Nghệ An nhưng ông chưa một lần tới Tiên Điền nên khi được ban tổ chức cho đi tham quan quê hương Nguyễn Du, ông thích lắm. Trên đường đi, ông cứ hình dung ra một vùng di tích bề thế và khang trang vì trước đó ông nghe đài đưa tin ngành văn hóa xây dựng khu bảo tàng Nguyễn Du năm 1965 nhân kỷ niệm 200 năm Ngày sinh đại thi hào. Nhưng thật bất ngờ, tới nhà lưu niệm đại thi hào thì “Trước sau nào thấy bóng người”. Đợi mãi mới thấy một chị đang cuốc cỏ khoai, chân đất chạy qua vườn tìm chìa khóa mở cửa rồi giới thiệu sơ lược về ngôi nhà này sau đó dẫn đoàn ra thăm mộ Nguyễn Du. Đứng trước ngôi mộ “sè sè nắm đất” giữa bãi tha ma của làng, cầm nắm hương trên tay không biết cắm vào đâu, tự nhiên ông rơm rớm nước mắt.
Trở ra Hà Nội sau chuyến thăm Tiên Điền, nhà thơ Vương Trọng treo tấm ảnh của đoàn chụp trước mộ Nguyễn Du lên bức tường đối diện nơi ông ngồi làm việc. Đêm 7-3-1982, ông lặng lẽ nhìn tấm ảnh và nghĩ về kiếp tài hoa của Đại thi hào rồi thốt lên: “Tưởng là phận bạc Đạm Tiên-Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên Điền nằm đây”. Lấy bút ghi vào cuốn sổ đang mở sẵn trên bàn mà nỗi buồn trong lòng chực trào ra cứ nghẹn lại. Bởi vậy khi viết bài thơ này, Vương Trọng không mảy may có ý định đăng báo mà chỉ ghi lại tâm trạng thật của mình, để dán dưới tấm ảnh, ngày nào cũng được ngắm như là trả xong một món nợ lòng. Khi viết xong 3 khổ đầu (mỗi khổ 6 câu), ông đọc lại và nghĩ rằng: Có buồn đấy nhưng chưa đến nỗi nào. Nếu khổ cuối sáng lên một ít thì có thể gửi đăng báo được. Vì thế mà ông viết tiếp: “Bao giờ cây súng rời vai / Nung vôi chở đá tượng đài xây lên”. Sau này, có người bảo, đất nước ta đã hòa bình năm 1975 rồi mà đến năm 1982 vẫn còn tự hỏi “Bao giờ cây súng rời vai” thì vô lý. Sự thật là năm 1982, đất nước ta đang có cuộc chiến tranh biên giới dai dẳng, chỉ đến năm 1989, khi bộ đội ta hoàn thành nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia thì ta mới thực sự hòa bình.
Năm 1983, Báo Văn Nghệ đăng một trang thơ do tác giả tự chọn. Vương Trọng gửi bài “Bên mộ cụ Nguyễn Du”. Ông còn nhớ như in trên trang thơ sang trọng ấy, tên bài thơ này được in màu xanh như màu cỏ trên mộ cụ Nguyễn Du. Nhà thơ Thanh Tịnh gọi ông sang phòng riêng. Sau khi khen bài thơ và cung cấp cho ông về đôi câu đối tương truyền do Vua Minh Mạng “trang tặng” tác giả Truyện Kiều khi mất ở Phú Xuân (Huế) năm 1820, thọ 55 tuổi. Câu đối đó như sau:
Nhất đại tài hoa, vi sứ vi khanh sinh bất thiểm
Bách niên sự nghiệp, tại gia tại quốc tử do vinh
(Một đời tài hoa, đi sứ làm quan, sống chẳng thẹn
Trăm năm sự nghiệp, trong nhà ngoài nước, thác còn vinh)
Mộ Cụ Nguyễn Du khi đó táng ở cánh đồng Bàu Đá, xã An Hoà, tỉnh Thừa Thiên và bốn năm sau, năm 1824, con trai của Cụ là ông Nguyễn Ngũ cùng với một người cháu, đưa hài cốt của Cụ về táng trong vườn nhà, và hơn một trăm năm sau, năm 1928 mới cải táng ra chỗ hiện nay, cách nhà hơn cây số.
Nhà thơ Vương Trọng kể tiếp:
“Từ khi bài thơ ra đời, nhân dân các vùng mới biết được thực trạng của mộ cụ Nguyễn Du lúc đó nên phản ứng mạnh. Có một vị Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng gọi điện chất vấn Bộ Văn hóa, tỉnh uỷ Nghệ Tĩnh về vấn đề này. Nhiều xí nghiệp tự động tổ chức các cuộc quyên góp để xây dựng lại mộ của Đại thi hào…
Nhưng trên quê hương Nghệ Tĩnh của tôi thì tình hình ngược lại. Bắt đầu là ý kiến của một vài cán bộ ở Hội Văn nghệ. Họ cho tôi là kẻ nói xấu quê hương, vạch áo cho người xem lưng…, họ phản ảnh điều đó với lãnh đạo tỉnh và tổ chức một cuộc hội thảo để bài xích bài thơ này, loại nó là khỏi đội ngũ những thi phẩm viết về cụ Nguyễn Du. Sau đó họ tuyển chọn một tập thơ của các thế hệ viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều, tất nhiên trong đó không có bài thơ của tôi, nhưng trớ trêu là trong lời giới thiệu họ phê phán bài thơ này! Không dừng lại đó, một đại diện của Hội Văn nghệ đã gửi hồ sơ cuộc hội thảo lên cho ông Hà Xuân Trường, đề nghị ông Trưởng Ban Văn hóa Tư tưởng phê bình báo Văn nghệ đã sử dụng một bài thơ độc hại như thế! Thật may là tôi ở Hà Nội, ăn lương Quân đội, chứ nếu công tác ở Nghệ Tĩnh thì chắc chắn bị “lên bờ xuống ruộng” chẳng kém gì Thạch Quỳ với bài thơ “Nói với con”!
Sau này có khi tự đọc lại bài thơ của mình, tôi ngạc nhiên sao khi đó mình lại có thể viết được câu: “Không cành để gọi tiếng chim/ Không hoa cho bướm mang thêm nắng trời”, “ý dày” được như thế! Còn khi đọc câu thơ “Bao giờ cây súng rời vai / Nung vôi, chở đá tượng đài xây lên“, có nhà phê bình bảo rằng, đất nước ta đã hoà bình từ năm 1975, thì năm 1982, “cây súng rời vai” đã được bảy năm rồi. Nói như vậy là không chính xác! Sự thật, năm 1982, khi bài thơ ra đời, đất nước ta đang trong một cuộc chiến tranh biên giới ác liệt, dai dẳng. Chỉ đến năm 1989, khi bộ đội của ta hoàn thành nhiệm vụ ở Cămpuchia trở về thì ta mới thực sự có hoà bình. Và thật kỳ diệu, chính năm 1989, mộ của cụ Nguyễn Du đã được xây dựng lại. Ngày khánh thành, tôi nhận được giấy mời vào dự lễ, nhưng vì đi công tác bận, đến đầu năm 1990, nhân chuyến đi viết về sự kiện hợp long cầu Bến Thủy, tôi mới có dịp cùng đoàn đến thắp hương trước mộ mới của Cụ. Đợi cho đoàn chúng tôi khấn vái xong, một cụ già tiến gần hỏi: “Các ông có biết tại sao mộ cụ Nguyễn Du của chúng tôi được xây lại đẹp như thế này không? Đó là nhờ bài thơ của ông Vương Trọng đấy! Các ông có nghe, tôi đọc cho mà nghe”!
Ông trưởng đoàn nháy mắt với tôi, ý bảo tôi đừng lên tiếng để nghe cụ đọc thơ. Và cụ đọc rất hồn nhiên. Khi cụ đọc xong, tôi nói: “Thưa cụ, chính con là Vương Trọng đấy ạ!” Cụ già cùng bao người khác chăm chú nhìn tôi. Rồi cụ nói: “Tôi tưởng ông phải già hơn, sao còn trẻ thế này! Tôi đọc thế có đúng không ông?” Sự thật cụ đọc theo lối truyền miệng, có sai đôi chữ, nhưng tôi vẫn cám ơn và khen cụ đọc hay.Cụ cho biết tên là Nguyễn Ngẫu, 83 tuổi, cùng họ với cụ Nguyễn Du. Cụ còn nói thêm rằng, năm 1982 đọc bài thơ của tôi đăng báo, bà con trong họ tin rằng mộ cụ Nguyễn Du thế nào cũng được xây dựng lại, và đúng như thế thật!
Nhân đây cũng xin lưu ý với bạn đọc rằng, năm 2000, mộ của cụ Nguyễn Du lại được tôn tạo, nâng cấp một lần nữa, để cùng với khu tưởng niệm Đại thi hào tạo thành một quần thể di tích văn hoá, hàng tuần đón nhiều đoàn khách trong và ngoài nước tới tham quan”.
Dưới đây là nguyên văn bài thơ của Vương Trọng và bản dịch ra Hán văn của nhà Nghệ sĩ Nhân dân Tào Mạt.
BÊN MỘ CỤ NGUYỄN DU
Tưởng rằng phận bạc Đạm Tiên
Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên Điền nằm đây
Ngửng trời cao, cúi đất dày
Cắn môi, tay nắm bàn tay của mình
Một vùng cồn bãi trống trênh
Cụ cùng “thập loại chúng sinh” nằm kề.
Hút tầm chẳng cánh hoa lê
Bạch đàn đôi ngọn, gió về nỉ non
Xạc xào lá cỏ héo hon
Bàn chân cát bụi, lối mòn nhỏ nhoi
Lặng yên bên nấm mộ rồi
Chưa tin mình đã đến nơi mình tìm.
Không cành để gọi tiếng chim
Không hoa cho bướm mang thêm nắng trời
Không vầng cỏ ấm tay người
Nén hương tảo mộ cắm rồi lại xiêu
Thanh minh trong những câu Kiều
Rưng rưng con đọc với chiều Nghi Xuân.
Cúi đầu tưởng nhớ vĩ nhân
Phong trần còn để phong trần riêng ai
Bao giờ cây súng rời vai
Nung vôi, chở đá, tượng đài xây lên:
Trái tim lớn giữa thiên nhiên
Tình thương nối nhịp suốt nghìn năm xa.
Nghi Xuân, 7-3-1982
VƯƠNG TRỌNG
NGUYỄN DU PHẦN BIÊN
Lân Đạm Tiên bạc mệnh
Hà tưởng Nguyễn Du phần
Vọng thiên cao địa hậu
Phủ trưởng giảo ngô thần
Thiên chủng liên thiên bích
Dữ chúng sinh đồng quần.
Cực mục vô lê hoa
Bạch đàn vi phong ca
Thảm thê hoa thảo lạc
Ô nê tiểu kính tà
Tịnh khán vô mao thổ
Do nghi thùy đáo gia?
Vô diệp điểu thanh hoang
Vô hoa diệp thiểu quang
Vô thảo hi noãn khí
Hương yên thụ diệc hoàng
Thanh minh đoạn trường cú
Nghi Xuân nhật mộ tàng.
Thủ phủ tưởng vĩ nhân
Thùy thương độc phong trần
Kỷ hồi hạ sang thủ
Thạch tượng lưu thi thần:
Thiên địa nhất tâm đại
Tiếp tích quán thiên xuân.
TÀO MẠT (dịch)

VỀ BÀI THƠ “THĂM LẠI MỘ HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG”
Tháng 7 năm 1982, nhân chuyến về quê, Bác sĩ Lê Khắc Thiền, nguyên Viện trưởng Viện Đông y Hà Nội (tức Bệnh viện YHCT Việt Nam hiện nay), có tranh thủ lên viếng mộ Hải Thượng Lãn Ông, và tức cảnh làm bài thơ như sau:
THĂM LẠI MỘ HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG
Lại tìm lên viếng mộ Người
Lối mòn cỏ khép núi đồi hoang sơ
Đây rồi theo hướng năm xưa
Bụi tre còi cọc đến giờ vẫn nguyên
Mà đâu nấm mộ bình yên
Đá Thanh từng đậy khắp trên linh sàng
Vạch từng cây dại cành hoang
Tìm ra bia chữ mấy hàng may thay
Ô kìa, mờ tỏ dưới cây
Một vài phiến đá chắc đây chốn này
Ngẩn ngơ nhớ tới những ngày
Tưng bừng kỷ niệm lời say giọng giòn
Vô tình với cả Y tôn
Nắng mưa thầm lặng xói mòn mộ xưa
Của người chạnh nhớ ý thơ
Vẳng thông chim hót thêm đưa nỗi buồn
Ra về gởi lại tấc son
Núi sông như vẫn lưu hồn danh nhân
Qua khe Nước Cắn dừng chân
Bè trôi nước chảy bao lần hỏi khe ?
Bác sĩ Lê Khắc Thiền
Như trên đã nói, sau khi bài thơ “Bên mộ cụ Nguyễn Du” của Vương Trọng ra đời 7 năm, đến năm 1989 mộ cụ Nguyễn Du đã được xây dựng lại (đến năm 2000 lại được tôn tạo nâng cấp một lần nữa). Và cũng sau chừng đó thời gian, UBND tỉnh Nghệ Tĩnh đã giao nhiệm vụ cho Hội YHDT tỉnh bước đầu đứng ra tổ chức thực hiện việc trùng tu lại toàn bộ khu mộ và khu lưu niệm với số vốn do ngân sách địa phương cấp và số tiền hỗ trợ của Hội YHDT TP.HCM và một số địa phương khác.
Năm 1990, sau khi Mộ và Khu lưu niệm Lê Hữu Trác được xếp hạng Di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 34 VH/QĐ ngày 09/01/1990 của Bộ Văn hóa – thông tin, Khu di tích được chính quyền địa phương huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tỉnh và Bộ Y tế quan tâm dặc biệt nên được quy hoạch, đầu tư khá bài bản, quy mô.
Năm 1991 khi Viện Bỏng Quốc gia được thành lập mang tên Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, Bộ Y tế đã giao cho Viện Bỏng phải có trách nhiệm với khu di tích của Hải Thượng tại huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Năm 2004-2011, Viện Bỏng quốc gia được Bộ Y tế và đã thực hiện dự án trùng tu tôn tạo quần thể di tích Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với các hạng mục gồm Tượng đài, Mộ, Nhà thờ, Khu lưu niệm với tổng kinh phí gần 40 tỷ đồng.
Ngày 26/11/2024, Thủ tương Chính phủ đã ký Quyết định số 1473/QĐ-TTg xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt đợt 16 cho 6 di tích trong toàn quốc, trong đó có di tích Mộ và Khu lưu niệm Lê Hữu Trác, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Bản thân người tổng hợp những dòng tư liệu cho bài viết này, mặc dù đã được mời tham gia trong nhóm biên soạn sách « Những điều cần biết về Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1724-1791) » do Nhà xuất bản Nghệ An ấn hành quý IV/2024, cũng như trực tiếp tham dự Lễ tưởng niệm 300 năm ngày sinh Hải Thượng Lãn Ông (27/12/1724 – 27/12/2024) tại Hà Tĩnh, từng nhiều lần đến viếng Khu Di tích Mộ và tượng đài Y tổ ở Hương Sơn trước đó, nhưng thú thật, mãi đến hôm nay mới được đọc bài thơ THĂM LẠI MỘ HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG của Bác sĩ Lê Khắc Thiền. Thật xiết bao cảm kích về một thời gian khó chưa xa !
Đà Nẵng 15/6/2025
P.C.T (tổng hợp)
Bài viết mới nhất
Ứng dụng Google store
Cây thuốc Đà Nẵng
Lượt truy cập
- Đang online: 1
- Hôm nay: 47
- Tất cả: 62241
