Trang nhà LƯƠNG Y PHAN CÔNG TUẤN

Sinh phần anh cất nơi đây

Lan man y dược, cỏ cây quê nhà

Cám ơn người đã ghé qua !

Quá trình hình thành phát triển của Y học cổ truyền Việt Nam

20/01/2026

LỜI DẪN:

Bài tổng luận “Quá trình hình thành phát triển của y học cổ truyền Việt Nam” (越南醫學形成之軌跡) của học giả Nhật Bản Mayanagi Makoto (眞柳誠) là một trong những công trình hiếm hoi tiếp cận lịch sử y học Việt Nam thời trung đại bằng phương pháp sử học thư tịch so sánh Đông Á, trên nền tảng Hán văn học thuật. Tác giả đồng thời là chuyên gia hàng đầu về lịch sử y học chữ Hán tại Nhật Bản, có nhiều công trình nghiên cứu về sự truyền bá, bản địa hóa và tái cấu trúc y học Trung Hoa tại các quốc gia thuộc khu vực văn hóa chữ Hán như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam.

Công trình này được công bố lần đầu năm 2010 trong tuyển tập học thuật 漢字文化圏における医薬学の展開 (Sự phát triển của y dược học trong khu vực văn hóa chữ Hán), do Nhà xuất bản Kyūko Shoin (汲古書院, Tokyo) ấn hành. Bài viết có độ dài 10 trang (tr. 274–283), mang tính chất tổng luận, nhằm phác họa một cách hệ thống quá trình hình thành, phát triển và đặc trưng của y học Việt Nam từ thời Trần đến hết thời Hậu Lê (1225–1789), trên cơ sở khảo sát các y thư hiện còn, đối chiếu với bối cảnh lịch sử – xã hội và so sánh với truyền thống y học Trung Hoa.

Điểm nổi bật của bài viết là cách tiếp cận phi trung tâm Trung Hoa, nhấn mạnh tiến trình Việt Nam hóa y học thông qua ba trục lớn:
(1) Sự thích ứng với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và cơ địa người Việt;
(2) Vai trò trung tâm của Nam dược và kinh nghiệm bản địa;
(3) Sự tham gia sâu rộng của tầng lớp Nho sĩ – tiến sĩ vào việc biên soạn, truyền thừa và hệ thống hóa y học.
Đặc biệt, tác giả dành vị trí then chốt cho Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác và bộ Hải Thượng Y tông tâm lĩnh, coi đây là mốc hoàn chỉnh hóa một hệ thống y học Việt Nam mang tính độc lập tương đối trong không gian Đông Á.

Bài viết nguyên được soạn bằng tiếng Nhật, sau đó do Quách Tú Mai (郭秀梅) – nhà nghiên cứu lịch sử y học tại Đại học Juntendo – dịch sang Hán văn. Bản Hán văn này hiện được lưu hành dưới dạng bản trích riêng do chính tác giả công bố (author’s offprint), giữ nguyên số trang của ấn bản in gốc và được giới nghiên cứu quốc tế thừa nhận là nguồn hợp lệ.

Chúng tôi cho dịch toàn văn bài viết này sang tiếng Việt nhằm ba mục đích:
Thứ nhất, giới thiệu một tổng luận có giá trị cao về lịch sử y học Việt Nam nhưng lâu nay còn ít được tiếp cận trong nước;
Thứ hai, bổ sung tư liệu tham khảo chuẩn mực cho nghiên cứu y học cổ truyền, lịch sử khoa học và lịch sử văn hóa Việt Nam;
Thứ ba, góp phần kết nối học thuật giữa nghiên cứu Việt Nam với dòng nghiên cứu Đông Á đương đại.

Bản dịch được thực hiện với sự trợ giúp của AI, theo nguyên tắc tôn trọng tối đa văn bản gốc, giữ nguyên cấu trúc, thuật ngữ và lập luận của tác giả; các chú thích cần thiết được bổ sung nhằm giúp người đọc Việt Nam thuận lợi hơn trong việc tiếp cận. Mọi sai sót do chưa chưa có điều kiện kiểm chứng tận nguồn các dẫn liệu, là do trình độ non kém của người dịch, mong được bạn đọc chỉ chính để hoàn thiện bản dịch.

Phan Công Tuấn

Hình 1. Trang đầu quyển đầu của 《Nam dược thần hiệu》

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Nguyên tác: Mayanagi Makoto
Hán dịch: Quách Tú Mai

Lời mở đầu

Trong lịch sử, y dược học bản địa của Việt Nam từng được gọi là Nam y, Nam dược; còn y dược học Trung Hoa, hoặc y dược học đã được Việt Nam hóa, thì được gọi là Bắc y, Bắc dược. Tổng hợp cả hai được gọi chung là Đông y Hán–Nôm.

Sau khi giành được độc lập năm 1945, thuật ngữ Đông y học được sử dụng. Hiện nay, Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam (nguyên là Trường Y Dược cổ truyền Tuệ Tĩnh) cùng với khoa Đông y của 6 trường đại học y khoa đã thiết lập chương trình đào tạo bác sĩ chuyên ngành, với thời gian học 6 năm, nhằm đào tạo bác sĩ lâm sàng.

Năm 1961 (tác giả nhầm, đúng ra là 1957- ND), Viện Nghiên cứu Đông yHội Đông y Việt Nam cũng được thành lập. Tuy nhiên, do điều kiện khí hậu nóng ẩm, môi trường thủy thổ đặc thù, cùng với những biến động chiến tranh kéo dài, nhiều thư tịch và tư liệu lịch sử y học Việt Nam đã bị thất tán đáng kể.

Vì vậy, dựa trên các nghiên cứu tiền nhiệm [1][2][3] và kết quả khảo sát cá nhân, tác giả xin khái lược lịch sử y học cổ truyền Việt Nam cho đến trước thời kỳ Hậu Lê.

1. Sử liệu lịch sử Việt Nam và sử liệu y học cổ truyền

Miền Bắc Việt Nam, kể từ sau khi bị nhà Hán thống trị vào thế kỷ II trước Công nguyên, ngoại trừ một giai đoạn vào thế kỷ VI, đã nằm dưới sự cai trị của Trung Quốc liên tục cho đến thế kỷ X. Vì vậy, chữ Hán được sử dụng rộng rãi; chế độ khoa cử cũng bắt đầu từ thế kỷ XI, sau khi giành được độc lập, và được duy trì cho đến đầu thế kỷ XX.

Tuy nhiên, do sự thống trị của nhà Minh vào đầu thế kỷ XV và các cuộc chiến tranh giành độc lập, phần lớn thư tịch cổ đã bị thất lạc. Hiện nay, những gì còn lại chỉ thấy là các bản chép tay hoặc bản khắc in từ sau thế kỷ XV trở đi.

Ngoài ra, từ triều (1009–1225) đến Hậu Lê (1428–1789), thư tịch được lưu trữ tại Quốc Tử Giám và các cơ quan khác ở kinh đô Thăng Long (nay là Hà Nội), về sau đã được di chuyển về kinh đô Huế dưới triều Nguyễn (1802–1945), song tình trạng của các thư tịch này đến nay vẫn chưa được điều tra đầy đủ [4].

Như sẽ trình bày ở phần sau, các y thư Việt Nam hiện còn tồn tại đều là những tác phẩm ra đời từ sau thế kỷ XIV. Hơn nữa, kể từ thời các triều đại độc lập bắt đầu từ thế kỷ XI, Thái y viện và các ngự y đã sử dụng những vị Bắc dược (dược liệu Trung Hoa) có giá thành cao để điều trị và chăm sóc sức khỏe cho nhà vua và tầng lớp quan lại.

Trong khi đó, tại các làng quê xuất hiện các thầy thuốc dân gian, sử dụng Nam dược – tức dược liệu sản xuất tại Việt Nam, rẻ tiền nhưng hiệu quả khá cao – để chữa bệnh cho quảng đại quần chúng. Họ hẳn đã có ghi chép kinh nghiệm điều trị; tuy nhiên, các bản ghi chép kinh nghiệm ấy vì mưu sinh nên bị bó hẹp trong phạm vi “bí truyền”, không được phổ biến rộng rãi, do đó khó tránh khỏi cảnh thất tán.

Theo ghi chép, việc in ấn sách vở ở Việt Nam bắt đầu từ cuối triều Trần (1225–1413) vào thế kỷ XIV. Cho đến giữa thế kỷ XX, phần lớn sách vở đều là sản phẩm biên soạn của chính quyền và do nhà nước xuất bản; xuất bản cá nhân và thương mại rất hiếm.

Việc xuất bản y thư cũng chủ yếu được tiến hành trong các chùa chiền, mang tính phi thương mại, nên số lượng hiện còn vô cùng ít. Xuất bản y thư mang tính thương mại lại càng hiếm hoi; vì vậy, phần lớn thư tịch y học cổ truyền hiện còn đều là những ấn phẩm được in từ thế kỷ XIX trở về sau. Do đó, đa số tư liệu lịch sử y học đã từng được bảo tồn dưới dạng bản chép tay gia truyền.

Thêm nữa, mạng lưới thông tin về thư tịch lưu trữ trên toàn quốc Việt Nam hiện vẫn chưa hoàn chỉnh. Về tình hình sách vở còn tồn tại, hiện chỉ biết rằng tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội và một số nơi khác, có lưu giữ khoảng 400 đầu sách, với khoảng 600 đơn vị tư liệu.

Trong bối cảnh nhiều hạn chế như vậy, công việc nghiên cứu lịch sử y học Việt Nam dựa trên chứng cứ lịch sử, đặc biệt là việc truy nguyên ngược về trước thời Trần, hiện vẫn đang ở trong tình trạng hết sức khó khăn.

2. Thời Trần (1225–1413): Y thư và Tuệ Tĩnh

Y thư cổ xưa nhất hiện còn của Việt Nam, có thể kể đến là 《Y học yếu giải tập chú di thiên, do Chu Văn An (朱文安, 1292–1370) biên soạn vào thời Trần [5]. Tác phẩm này lấy 《Nội kinhlàm nền tảng, phân tích nguyên nhân và bệnh lý của các loại bệnh tật, trình bày phương pháp chẩn đoán và điều trị. Chu Văn An còn sáng chế các phương thuốc mới để chữa các chứng ngoại cảm nhiệt chứnghàn chứng, tiêu biểu là hai phương Đảng khấu thangCố nguyên thang.

Danh y tiêu biểu của thời Trần là Huệ Tĩnh (), tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh (阮伯), về sau thường gọi là Tuệ Tĩnh 慧 靖 (nhiều khi bị viết nhầm là Tuệ Tĩnh 慧靜). Năm 1374, khi 45 tuổi, ông đỗ khoa cử nhưng không ra làm quan, mà tu hành tại chùa Hộ Xá, huyện Giao Thủy, phủ Xuân Trường, lấy nghề y làm sự nghiệp.

Năm 1385, ông được phái sang nhà Minh; do hành nghề chữa bệnh và cấp thuốc tại đó nên bị lưu lại, rồi mất tại địa phương. Có thể xác định rằng các y thư của Tuệ Tĩnh đều được soạn trước năm 1385 [6].

Năm 1717, triều Lê, quan Thị nội phủ thác danh Tuệ Tĩnh để biên soạn và khắc in 《Hồng Nghĩa giác tư y thư gồm 2 quyển. Quyển thượng thâu lục 《Nam dược quốc ngữ phú, 《Trực giải chỉ nam dược tính phú; quyển hạ thâu lục 《Thập tam phương gia giảm《Thương hàn tam thập thất chùy.

Tuy nhiên, qua khảo sát cho thấy 《Thập tam phương gia giảm được xây dựng trên cơ sở 《Gia giảm thập tam phương của Từ Dụng Hòa (徐用和) đời Nguyên (bản in đầu năm 1413), còn 《Thương hàn tam thập thất chùy thì dựa vào thiên 《〔Thương hàn gia bí〕sát xa chùy pháp trong 《Thương hàn lục thư của Đào Hoa (陶華)đời Minh (bản in đầu năm 1522). Do đó, bộ sách này không nghi ngờ gì nữa là giả thác danh Tuệ Tĩnh, được cải biên và bổ sung trong khoảng từ thế kỷ XVI đến XVIII.

《Nam dược quốc ngữ phú dùng văn vần tiếng Việt để biên soạn thành 24 vần, ghi chép tên Hán, tên Việt, công hiệu của các vị Nam dược thường dùng. Tuy đây cũng là sách được đời sau biên tập lại hoặc thêm thắt, nhưng do được viết bằng chữ Nôm cổ xen chữ Hán, có thể xác định bản gốc là do Tuệ Tĩnh soạn.

《Trực giải chỉ nam dược tính phú được viết bằng hình thức ca phú chữ Hán, liệt kê 280 vị thuốc thuộc các phép trị khác nhau. Ở đầu bài phú có ghi: “Muốn ban ơn cho sinh dân, trước hết phải tìm thánh dược; Thiên thư đã định nước Việt phương Nam, thổ sản vốn khác với Bắc quốc”,
nhấn mạnh sự khác biệt dùng thuốc Bắc, thuốc Nam giữa Bắc quốc (Trung Quốc)Nam bang (Việt Nam).

Cuối bài phú lại ghi: “Tập hợp các phương thuốc hay, rộng tay Phật tổ cứu dân, … Mới không phụ nguyện ước cõi trời Nam rộng khắp ân huệ”.

Cả lời đầu lẫn lời cuối đều dùng chữ “Huệ”, nên có thể xác định đây là tác phẩm của Huệ Tĩnh, tức Tuệ Tĩnh. Hai sách 《Nam dược quốc ngữ phú《Trực giải chỉ nam dược tính phú, với hình thức ca phú và nội dung của chúng, đã gây ảnh hưởng rất lớn đến y thư Việt Nam đời sau.

Ngoài ra, Tuệ Tĩnh còn soạn 《Nam dược thần hiệu. Theo bản hiện còn, chỉ có thể xác nhận quyển đầucác quyển 1 đến 3. Dựa vào mục lục của sách, có thể biết rằng tác phẩm này gồm 11 quyển: quyển đầu là bản thảo, quyển 1 từ các chứng trúng phong cho đến quyển 10 là ngoại khoa, là một bộ y thư tổng hợp hoàn chỉnh.

Phần “Dược phẩm Nam danh khí vị chính trị ca quát” ở quyển đầu (Hình 1) ghi chép đối với 62 loại thảo mộc, 17 loại dây leo, cho đến 6 loại nhân dược (thuốc nguồn gốc từ người), mỗi vị đều nêu tên Hán, tên Việt (chữ Nôm), khí vị, dược tính, cách chế biến, mỗi mục vài dòng. Cách phân loại nhìn chung phù hợp với 《Bản thảo cương mục (bản in đầu năm 1596), do đó không nghi ngờ gì rằng đã có sự cải biên hoặc bổ sung khá nhiều của đời sau.

Tuy nhiên, phần văn bản gốc ở quyển 1 đến 3 là chữ Hán xen một phần văn Việt, có rất nhiều phương thuốc Nam giản tiện, chịu ảnh hưởng của y học Trung Hoa không nhiều. Hơn nữa, trong chú giải của Phan Huy Chú《Lịch triều hiến chương loại chí, sách này được liệt kê như tác phẩm của Tuệ Tĩnh, vì vậy bản hiện truyền rất có thể xuất phát từ nguyên tác của ông.

Tóm lại, tư tưởng do Tuệ Tĩnh đề xướng là “Thuốc nam Việt chữa người Nam Việt” (dùng Nam dược để chữa bệnh cho người Việt”, cùng với hình thức ca phú diễn đạt dược hiệu, đã liên tục và mạnh mẽ định hướng cho sự phát triển của y học Việt Nam về sau.

(Xem tiếp kỳ sau)

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *