Trang nhà LƯƠNG Y PHAN CÔNG TUẤN

Sinh phần anh cất nơi đây

Lan man y dược, cỏ cây quê nhà

Cám ơn người đã ghé qua !

Quá trình hình thành phát triển của Y học cổ truyền Việt Nam (kỳ 3)

21/01/2026

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

(Kỳ 3)

(Tiếp theo và hết)

Tượng Thiền sư Đại danh y Tuệ Tĩnh tại Y miếu Bệnh viện YHCT Đà Nẵng (Ảnh: P.C.T)

4. Sự phát triển của y học thời Trần – Hậu Lê (1225–1789)

Phân tích các y thư hiện còn của thời Trần và Hậu Lê, nhìn suốt hơn 500 năm lịch sử, có thể khái quát được quá trình phát triển và những đặc trưng của y học Việt Nam.

Đặc trưng nổi bật nhất là sự hình thành một nền y học thích ứng với phong thổ Việt Nam, đặc tính bệnh tật và thể chất người bệnh. Y thư Việt Nam cổ nhất còn lại, hoàn thành vào thế kỷ XIV là Y học yếu giải tập chú di biên, đã sáng tạo ra các phương thuốc Đảng khấu thang và Cố nguyên thang để điều trị chứng nhiệt và chứng hàn của bệnh ngoại cảm. Trong xử trí các bệnh cấp tính, so với thương hàn hay trúng phong, các sách y Việt Nam chú trọng hơn đến sốt rét, lỵ, tiêu chảy… – đây là đặc điểm chung của y thư Việt Nam.

Trong Y tông tâm lĩnh, quyển 14 Ngoại cảm thông trị tập, tác giả luận về thương hàn trong mối liên hệ với phong thổ và thể chất người Việt, đồng thời khẳng định rằng khi điều trị thương hàn cho người Việt Nam thì không nên dùng ma hoàng và quế chi. Sách cho rằng do khí hậu nóng ẩm, ra mồ hôi nhiều làm hao tổn âm dịch, nên khi dùng phép bổ cần đồng thời phối hợp phép bổ âm, và từ đó sáng tạo ra nhiều phương thuốc mới.

Liên quan đến điểm này là chủ trương của Tuệ Tĩnh về việc sử dụng Nam dược trong phương thuốc, có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều y thư đời sau.

Đặc trưng thứ hai là sự mở rộng phạm vi của y dược học Việt Nam. Việc khai thác và ứng dụng Nam dược không chỉ dừng ở dược liệu mà còn mở rộng đến việc thừa nhận công dụng dược tính của các loại thực phẩm bản địa, từ đó hình thành các bộ Nam dược bản thảoThực vật bản thảo mang tính độc lập. Trên lâm sàng, không chỉ phát triển điều trị các bệnh phong thổ như sốt rét, ôn dịch, chướng khí, mà còn chú trọng đến việc chữa bệnh cho gia súc, khiến các y thư liên quan lần lượt ra đời. Hơn nữa, do chiến tranh xảy ra liên miên, y học quân sự cũng theo đó mà hình thành. Để duy trì dòng dõi cung đình, việc chú trọng sinh sản và nuôi dưỡng được đề cao, nên các lĩnh vực như cường tinh nam nữ, phòng trung thuật, phụ khoa, nhi khoa, đậu chẩn… đều được mở rộng. Các phương thuốc có hiệu quả thực nghiệm được coi trọng, thậm chí còn có chiếu chỉ biên soạn những bộ y phương tập đại thành.

Đặc trưng thứ ba cần kể đến là việc bắt đầu từ các tác phẩm của Tuệ Tĩnh như Nam dược quốc ngữ phúTrực giải chỉ nam dược tính phú, sử dụng hình thức ca phú để ghi chép và phổ biến y học. Thể ca phú trong y thư đã được phát triển ở Trung Quốc từ thời Nguyên, phổ biến vào thời Minh, và ảnh hưởng lan sang Triều Tiên, Nhật Bản. Tuy nhiên, việc phần lớn y thư Việt Nam sử dụng hình thức ca phú lại là một đặc trưng lớn, phản ánh thực tế truyền bá y học bằng phương thức ghi nhớ và truyền khẩu. Việt Nam dựa vào xuất bản thương mại để phổ biến y thư có lẽ chỉ bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX. Việc sử dụng thể ca phú có thể bắt nguồn từ đặc điểm kinh tế – xã hội và văn hóa truyền khẩu của đất nước.

Đặc trưng thứ tư là phần lớn các y thư cổ được chép tay và truyền lại đến ngày nay đều do các tiến sĩ, gia tộc tiến sĩ hoặc những người có liên hệ với họ biên soạn. Không thể phủ nhận vai trò của chế độ khoa cử trong bối cảnh này, nhưng so với Trung Quốc hay Triều Tiên – những nước cũng áp dụng khoa cử – thì việc tiến sĩ soạn y thư ở Việt Nam phổ biến hơn nhiều, thậm chí còn mang tính kế thừa qua nhiều thế hệ. Điều này cho thấy mối liên hệ đặc thù giữa Nho học và y học ở Việt Nam. Vì vậy, những sách y Trung Quốc được họ trích dẫn như Bản thảo cương mục 52 quyển (1596), Phùng thị cẩm nang bí lục 59 quyển (1702), Cảnh Nhạc toàn thư 64 quyển (1710), Chứng trị chuẩn thằng 44 quyển (1760) đều là những bộ sách đồ sộ, đắt tiền, khó tiếp cận đối với các thầy thuốc thông thường. Dù có những sách không quá đồ sộ như Y học nhập môn 8 quyển (1575), Vạn bệnh hồi xuân 8 quyển (1587), Thọ thế bảo nguyên 10 quyển (1615), nhưng các sách này cũng được sử dụng rất sớm ngay sau khi ra đời và xuất bản ở Trung Quốc – điều mà phần lớn y gia bình dân khó có điều kiện tiếp cận. Chính nhờ những yếu tố đó mà các y thư do họ biên soạn mới có thể được lưu truyền lâu dài hoặc được hậu thế trích dẫn.

Cuối cùng, đặc trưng thứ năm cần đặc biệt nêu ra là sự ra đời của 〔Hải ThượngY tông tâm lĩnh gồm 28 tập, tổng cộng 66 quyển của Lê Hữu Trác. Tác phẩm này không chỉ hội tụ đầy đủ các đặc trưng của y dược học Việt Nam đã nêu trên, mà còn hệ thống hóa và lý luận hóa chúng, qua đó hình thành một hệ thống y học Việt Nam mang tính độc lập. Có thể khẳng định rằng sự hoàn thành của tác phẩm này đã đưa y học Việt Nam sang một giai đoạn phát triển mới. Vì vậy, trong lịch sử Việt Nam, vị đại y gia vĩ đại nhất – Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác thời Lê – hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu ấy. Tuy nhiên, do nội dung quá đồ sộ và được viết bằng chữ Hán, nên tác phẩm này hiện nay chưa được giới Đông y Việt Nam khai thác và sử dụng đầy đủ, thật đáng tiếc.

Hình 4. Điện thờ tế tự Hải Thượng Lãn Ông (Lê Hữu Trác) – Hà Nội

.

Nguyên tác: Mayanagi Makoto
Việt dịch: Phan Công Tuấn

(Dịch từ bản dịch Hán văn của  Quách Tú Mai tại https://square.umin.ac.jp/mayanagi/paper01/VnMedCN.pdf)

Chú dẫn tài liệu

[1] Hoàng Bảo Châu, Phó Đức Thực, Hữu Ngọc: Tổng quan về y học cổ truyền Việt Nam, trong Vietnamese Traditional Medicine (ấn bản lần thứ hai), tr. 1–28, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội, 1999.

[2] Lâm Giang: Phần thứ nhất – Thực trạng thư tịch y dược cổ truyền Việt Nam (越南傳統醫藥書籍之實情), trong Lâm Giang (chủ biên), Tìm hiểu thư tịch y dược cổ truyền Việt Nam (越南傳統醫藥書籍考), tr. 13–190, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2009.
Bài nghiên cứu này trích dẫn từ bản tóm dịch tiếng Nhật của ông Ōnishi Kazuhiko (大西和彦).

[3] Mayanagi Makoto: Nghiên cứu so sánh định lượng thư tịch y học cổ truyền các quốc gia trong khu vực đồng vănQuantitative Comparative Studies on Traditional Medical Treatises in Countries Using the Same Language (i.e., Classical Chinese)〕, Mục lục Tạp chí Hán Nôm〔漢喃雜誌〕, số 6 (97), 2009, tr. 10–29, xuất bản năm 2010.

[4] Các sách cổ hiện lưu giữ tại Huế: trong cuộc giao tranh ác liệt thời chiến tranh Việt Nam (1968), có khả năng một phần đã bị thất lạc. Lại có truyền rằng cháu gái của đại thần triều Nguyễn là Trương Đăng Quế, trong khu đất nhà một bà lão, có một thư thất bảo quản sách y dược, nhờ đó mà sách của Thái Y Viện triều Nguyễn có thể đã được lưu truyền đến nay.

[5] Chu Văn An, tên thật là Chu An. Sinh ngày 25 tháng 8 năm 1292 tại vùng ngoại ô Thăng Long, mất ngày 28 tháng 11 năm 1370, thọ 78 tuổi. Tuy đỗ khoa cử nhưng không ra làm quan, ông mở trường dạy học tại quê nhà, đào tạo nhiều học trò. Ông từng giảng dạy cho Hoàng thái tử của vua Trần Minh Tông (trị vì 1314–1329), và trong một thời gian ngắn giữ chức Quốc Tử Giám giáo thụ. Tác phẩm Tứ thư thuyết ước, giới thiệu tinh yếu Tứ thư dựa theo chú giải của Chu Hy, là trước tác đầu tiên ở Việt Nam bàn luận về kinh điển Nho gia, đồng thời là bằng chứng sớm nhất cho sự truyền nhập của Chu tử học vào Việt Nam.

[6] Tuệ Tĩnh: từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII, là pháp danh được nhiều vị tăng sĩ kế tục sử dụng. Theo thuyết phổ biến, trong số đó có một người vào đầu thế kỷ XV, tên Hồng Nghĩa, nổi tiếng tinh thông y học.

[7] Phan Phu Tiên, tự Tín Thần, hiệu Mặc Hiên, người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội. Không rõ năm sinh, năm mất. Năm Bính Tỵ (1396) đời Trần Thuận Tông, đỗ Thái học sinh. Năm Thuận Thiên thứ 2 (1429), lại đỗ khoa Minh kinh. Từng giữ các chức Quốc sử viện đồng tu quốc sử, sau làm An phủ sứ Thiên Trường, rồi Quốc Tử Giám bác sĩ. Ông biên soạn Đại Việt sử ký tục biên, ghi chép lịch sử từ Trần Nhân Tông (trị vì 1225–1258) đến Trần Trùng Quang (trị vì 1409–1413); đồng thời tuyển chọn thơ văn của 119 tác giả từ thời Trần đến thời Lê, tổng cộng 624 bài, hoàn thành tuyển tập văn học sớm nhất của Việt Nam là Việt âm thi tập gồm 6 quyển.

[8] Nguyễn Trực, tự Công Đĩnh, hiệu Hư Liêu, người xã Bối Khê, huyện Thanh Oai, trấn Hà Tây (nay thuộc phía tây Hà Nội). Năm 18 tuổi đỗ Hương cống; năm Đại Bảo thứ 3 (1442) đỗ Trạng nguyên. Dưới triều Lê Nhân Tông (1443–1459), niên hiệu Thái Hòa (1443–1453), ông giữ chức Hàn Lâm viện Thị giảng. Trước tác có Hư Liêu tậpNgu Nhàn tập.

[9] Nguyễn Gia Phan, còn gọi là Nguyễn Thế Lịch, hiệu Dưỡng Am, hoặc hiệu Từ An. Sinh năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749) tại làng An Lũng, huyện Từ Liêm (nay thuộc Hà Nội). Năm Cảnh Hưng thứ 36, 26 tuổi, dự khoa cử và đỗ Tiến sĩ, được bổ nhiệm chức Giám sát ngự sử đạo Sơn Tây.

[10] Trong các bản sách hiện còn, tuy thấy những tên như Thai tiền điều kinh phương pháp, Thai tiền điều dưỡng phương pháp, Thai sản điều lý phương pháp, Thai sản điều dưỡng phương pháp…, nhưng thực chất đều do nhầm lẫn lấy tên các thiên trong sách làm tên sách. Tên sách chính xác phải là Thai sản điều kinh phương pháp.

Thông tin tác giả

眞柳 – MAYANAGI Makoto (Chân Liễu Thành)

Hình tác giả MAYANAGI Makoto

Sinh năm 1950.
Tốt nghiệp Khoa Dược, Đại học Khoa học Tokyo. Sau thời gian du học tại Học viện Trung y Bắc Kinh, ông nhận học vị Tiến sĩ Y học tại Khoa Y, Đại học Shōwa (Nhật Bản).

Từng công tác tại Viện Nghiên cứu Kitasato – Viện Nghiên cứu Tổng hợp Y học Phương Đông trực thuộc.
Hiện là Giáo sư cao học thuộc Nghiên cứu khoa Nhân văn, Đại học Ibaraki; đồng thời giữ các chức vụ:

  • Ủy viên Ban Chấp hành Hội Lịch sử Y học Nhật Bản
  • Ủy viên Hội Nghiên cứu Tư liệu Khai quật Trung Quốc
  • Ủy viên Hiệp hội Y học Đông Á

Các công trình biên dịch – hiệu khảo tiêu biểu:

  • Hòa khắc Hán tịch y thư tập thành
  • Tiểu phẩm phương · Hoàng Đế Nội Kinh Minh Đường cổ sao bản tàn quyển
  • Bản Nhật của đồ lục bản thảo Trung Quốc
  • Thiện bản phiên khắc: Thương hàn luận · Kim quỹ yếu lược

Tác giả của 222 bài nghiên cứu và báo cáo điều tra trong lĩnh vực lịch sử y học và thư tịch học.

Thông tin người dịch Hán văn

翻譯 郭秀梅 – GUO Xiumei (Quách Tú Mai)

Hình dịch giả Hán văn GUO Xiumei

Sinh tại thành phố Trường Xuân, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc.
Tốt nghiệp Đại học Trung Y Dược Trường Xuân. Nhận học vị Tiến sĩ Y học tại Đại học Juntendo (Nhật Bản), và hoàn thành chương trình nghiên cứu sau tiến sĩ tại Đại học Trung Y Dược Thượng Hải.

Hiện là:

  • Nghiên cứu viên hợp tác tại Phòng Nghiên cứu Lịch sử Y học, Khoa Y, Đại học Juntendo
  • Nghiên cứu viên tại Bộ môn Lịch sử Y học, Viện Nghiên cứu Tổng hợp Y học Phương Đông, Đại học Kitasato

Các tác phẩm biên soạn tiêu biểu:

  • Tuyển yếu chú giải Thương hàn luận của các y gia Nhật Bản
  • Tuyển yếu chú giải Kim quỹ yếu lược của các y gia Nhật Bản

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *