Quá trình hình thành phát triển của Y học cổ truyền Việt Nam (kỳ 2)
21/01/2026
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
(Kỳ 2)
(Tiếp theo kỳ trước)
3. Y thư thời Hậu Lê (1428–1789)
3-1. Phan Phu Tiên – Bản thảo thực vật toản yếu
Vào giai đoạn đầu thời Hậu Lê, nguyên tác 《Bản thảo thực vật toản yếu》 được biên soạn. Bản hiện còn truyền lại là 1 quyển, chép tay bằng bút lông, hiện lưu giữ tại Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (École française d’Extrême-Orient), ký hiệu A.1219 của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Sách thu thập 392 vị gồm Nam dược dễ kiếm và thực phẩm thường dùng, phân loại theo các bộ như thảo bộ, thái bộ, kim bộ, v.v.; đối với tên Hán, có chú thêm tên Việt bằng chữ Nôm, đồng thời ghi rõ khí vị, công hiệu, phương pháp giải độc, v.v.
Cuối sách có lời ghi: “Thái học sinh khoa Bính Tý Trần Quang Thái, Phan Phu Tiên biên soạn, năm 1429.” Phan Phu Tiên (潘孚先) là tiến sĩ trải qua cả triều Trần và Lê, có nhiều thành tựu về sử học và văn học [7]; niên đại hoạt động và chức quan của ông phù hợp với lời ghi cuối sách này.
Ngoài ra, sách còn có lời tựa vô danh, không ghi năm, trong đó nói rằng nội dung được trích lục từ nhiều sách bản thảo dược và từ 《Bản thảo cương mục》. Văn bản nguyên văn trích dẫn nhiều chỗ từ Lý Thời Trân, vì vậy không nghi ngờ gì đã tham khảo 《Bản thảo cương mục》.
Tuy nhiên, 《Bản thảo cương mục》 được biên soạn vào thế kỷ XVI, không phù hợp với niên đại sinh hoạt của Phan Phu Tiên. Do đó, có thể xác định rằng lời tựa và phần văn bản hiện còn là sản phẩm được đời sau thêm thắt và cải biên, và nội dung đã khác xa nguyên tác.
Dẫu vậy, trong 《Hồng Đức quốc âm thi tập》 thế kỷ XV có sử dụng một số chữ Nôm cổ, cho phép suy đoán rằng tác phẩm bản thảo dược–thực vật của Phan Phu Tiên, vốn làm nền tảng cho cuốn sách này, đã tồn tại từ thời điểm ấy.
3-2. Nguyễn Trực – Bảo anh lương phương
Tiến sĩ Nguyễn Trực (阮直, 1417–1473) [8] biên soạn 《Bảo anh lương phương》 gồm 4 quyển, là chuyên thư nhi khoa cổ xưa nhất hiện còn của Việt Nam.
Bản hiện còn là bản chép tay của Viện Viễn Đông Bác Cổ, gồm quyển Xuân (quyển 1), lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm với ký hiệu A.1462; các quyển Hạ, Thu, Đông hiện chưa rõ nơi lưu giữ.
Lời tựa do Nguyễn Trực viết không ghi niên đại. Nguyễn Trực hành nghề y, chuyên nghiên cứu y thư (Trung Quốc), thu thập và tuyển chọn tinh hoa để biên tập thành sách. Ở trang trong có ghi: “Năm Diên Ninh Ất Hợi (1455) / Bảo anh lương phương / ngày lành tháng bảy, kính sao chép”, từ đó có thể xác định sách được hoàn thành vào năm 1455.
Hơn nữa, căn cứ vào việc bản hiện còn được chép trên giấy kẻ dòng theo mẫu in, có thể suy đoán rằng bản gốc dùng để sao chép rất có khả năng là bản khắc in. Toàn bộ sách viết bằng chữ Hán, không có chữ Nôm.
Phần hiện còn của sách bàn về các chứng bệnh nhi khoa như thai độc, kinh phong, đậu chẩn, cùng các phương pháp chẩn đoán và điều trị; nội dung được trình bày theo các thể loại ca, phú, giải, biện, luận.
Trong đó, một phần giữ nguyên hình thức phú hoặc ca của Trung Quốc, một phần là do tác giả sửa đổi và biên tập lại. Qua đó có thể thấy rằng việc các tiến sĩ tham gia biên soạn y thư có lẽ cũng là một đặc trưng của y học Việt Nam.
**3-3. Hoàng Đôn Hòa – Hoạt nhân toát yếu và Trịnh Đôn Phác – Hoạt nhân toát yếu tăng bổ**
Hoàng Đôn Hòa (黃敦和) không thấy ghi chép trong gia phả họ Hoàng đời thứ 17, nên năm sinh năm mất không rõ. Tuy nhiên, theo ghi chép trong 《Thần phổ》, trong cuộc chiến với họ Mạc năm 1592, họ Hoàng từng chữa trị cho quân đội triều Lê các chứng phát sốt, nôn mửa, tiêu chảy, đồng thời còn bói quẻ để dùng vào chiến đấu. Từ đó có thể xác định ông là y gia thế kỷ XVI.
Trong tác phẩm 《Hoạt nhân toát yếu》, các phương pháp điều trị phát nhiệt và nôn mửa – tiêu chảy được ghi chép khá tường tận. Ngoài ra, sách còn ghi các phép chữa bệnh cho trâu nước, bò, ngựa; do miền Bắc Việt Nam hầu như không có voi lớn, nên không có phương pháp chữa bệnh cho voi.
Mặt khác, sách ghi chép nhiều phép chữa bằng các vị thuốc thông dụng, dễ kiếm, vì vậy có thể xem là một tác phẩm tổng hợp các điểm then chốt của thực hành y học. Hơn nữa, về phương diện điều trị gia súc, trước đó chưa thấy sách nào có ghi chép tương tự; do đó, Hoàng Đôn Hòa có thể được xem là thủy tổ của thú y và quân y Việt Nam.
Người tăng bổ Hoạt nhân toát yếu là Trịnh Đôn Phác (鄭敦樸, 1692–1762). Năm 1741, ông đỗ khoa thi y học, được bổ nhiệm làm Tá Trung cung Thái y viện. Trịnh thị và Hoàng Đôn Hòa cùng xuất thân một làng, là nơi có nhiều người ra làm quan. Vì vậy, Trịnh Đôn Phác đã biên soạn bổ sung sách của Hoàng Đôn Hòa, thành 《Hoạt nhân toát yếu tăng bổ》 gồm 3 quyển.
Bản hiện còn của sách gồm 3 quyển, là bản chép tay của Viện Viễn Đông Bác Cổ (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.2535). Hình thức trình bày chỉnh tề, có thể suy đoán là sao chép từ bản khắc in.
- Quyển 1: Phụ nhân môn
- Quyển 2: Tiểu nhi môn
- Quyển 3: Ngoại khoa môn và Lục súc điều trị môn
Nội dung cơ bản đều được viết bằng chữ Hán. Trong các y thư Việt Nam, những sách được cấu thành bởi ba môn: phụ nhân – tiểu nhi – ngoại khoa như vậy là rất hiếm.
Các sách được Trịnh Đôn Phác sử dụng khi tăng bổ 《Hoạt nhân toát yếu》, ngoài 《Nam dược thần hiệu》, còn có các y thư Trung Quốc như:
- 《Cảnh Nhạc toàn thư》 (bản in đầu năm 1710),
- 《Thọ thế bảo nguyên》 (soạn năm 1615),
- 《Y học nhập môn》 (thành sách năm 1575),
- 《Tế âm cương mục》 (bản in đầu năm 1620),
- 《Bản thảo cương mục》 (bản in đầu năm 1596).
Có thể thấy các y thư Trung Quốc loại này đều được lưu trữ tại Thái y viện, và về sau thường được y thư Việt Nam trích dẫn, là những tác phẩm có ảnh hưởng rất lớn đối với y học Việt Nam.
Nội dung của sách phần lớn là ghi chép phương thang điều trị các chứng bệnh, trình bày chi tiết chủ trị, dược vị, gia giảm, cách dùng, trong khi phần luận giải thì khá ít. Đồng thời, sách còn liệt kê rất nhiều khẩu quyết, qua đó có thể nhận thấy kinh nghiệm lâm sàng phong phú của Trịnh Đôn Phác.
3-4. Ngô Tĩnh – Vạn phương tập nghiệm
Tiến sĩ triều Lê Ngô Tĩnh (吳靖) cũng biên soạn 《Vạn phương tập nghiệm》 gồm 8 quyển. Hiện còn bản chép tay của Viện Viễn Đông Bác Cổ (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.1287/1–8). Sách có lời tựa tu chỉnh lại vào năm Cảnh Hưng thứ 23 (1762), đề tên:
“Tiến sĩ khoa Giáp Thìn triều Lê, Tham chính, Nho lâm nam Ngô (hiệu Trấn An, tự Văn Tĩnh) biên tập; Tiến sĩ triều Lê, tri huyện xã Tri Chỉ, huyện Phú Xuyên, Nguyễn Nho hiệu đính;
Tú tài Viện y, Vân Khê, Nguyễn Địch sao chép.”
Trong lời ghi có nói rằng: xem xét các phương trị rất khó, nên đã rộng tìm các phương thuốc gia truyền trong nước để biên soạn thành sách.
Sách được viết bằng chữ Hán, là y phương thư phân loại theo bệnh môn.
- Quyển 1–4: Nội khoa thông trị bộ, bắt đầu từ các môn sốt rét, lỵ, tiêu chảy, các chứng phong, tả, thương hàn, thương phong, trúng hàn. Việc đặt sốt rét, lỵ, tiêu chảy trước thương hàn phản ánh đặc điểm chung của y thư Việt Nam.
- Quyển 5: Ngoại khoa
- Quyển 6: Nữ khoa và Nhi khoa
- Quyển 7: Bệnh thượng tiêu
- Quyển 8: Bệnh trung tiêu và hạ tiêu
Cách biên soạn thượng – trung – hạ tiêu được xem là đặc sắc riêng của sách này.
Ngoài ra, trong mỗi bệnh môn, sách liệt kê các phương trị tương ứng với từng chứng, không có phần luận bệnh, và ở đầu hoặc cuối đoạn đều ghi rõ xuất xứ. Các phương thuốc phần lớn được dẫn gián tiếp từ 《Bản thảo cương mục》 (hoặc 《Ngoại đài bí yếu phương》, 《Chứng loại bản thảo》), đồng thời cũng có những trích dẫn từ y thư Trung Quốc ra đời sau 《Bản thảo cương mục》.
Điều đáng chú ý là trong sách còn dẫn dụng các y thư Việt Nam hiện nay không còn thấy, cho thấy một tầng tư liệu đã bị thất truyền. Hình thức tác phẩm chỉ chuyên biên soạn y phương này có thể được xem là chịu ảnh hưởng của 《Phổ tế phương》 đời Minh.
Hơn nữa, đây là y phương thư duy nhất hiện còn ở Việt Nam do triều đình sắc soạn, vì vậy có giá trị đặc biệt cao.
3-5. Lê Hữu Trác – 〔Hải ThượngY tông tâm lĩnh〕
Lê Hữu Trác (黎有倬, 1724–1791), tự Hữu Trác, tên Hữu Chẩn, biệt danh Hữu Huân, tục danh Chiêu Bảy, hiệu Hải Thượng Lãn Ông. Ông nội là Lê Hữu Danh, đỗ tiến sĩ năm Cảnh Trị thứ 8 (1670), làm quan đến chức Hiến sát sứ. Cha là Lê Hữu Mưu, cũng là tiến sĩ; Lê Hữu Trác là người con thứ bảy.
Quê gốc ở xã Liêu Xá, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương. Ông sinh tại quê ngoại (nay là xã Tình Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), lớn lên tại quê nội, sau đó trở lại quê mẹ, lấy hiệu Hải Thượng Lãn Ông, hành nghề y, nên trong dân gian thường gọi ông là Hải Thượng Lãn Ông hoặc Lãn Ông.
Thuở nhỏ, ông theo cha lên kinh đô Thăng Long học tập, nổi tiếng nhờ tư chất xuất chúng và học vấn uyên bác. Năm 20 tuổi, vì lo việc tang cha và thực hành hiếu đạo với mẹ, ông trở về quê, việc học bị gián đoạn.
Bấy giờ trong nước liên tiếp xảy ra các cuộc nổi dậy, xã hội rơi vào cảnh hỗn loạn; lại thêm hạn hán, đói kém liên miên. Lê Hữu Trác chán ghét con đường lập thân bằng khoa cử, theo học một võ sinh 80 tuổi, người tinh thông thiên số và binh pháp, để học âm dương học. Sau đó ông theo quân ngũ, nhưng sớm tỉnh ngộ rằng chiến tranh đối với dân chúng trăm hại không một lợi. Cái chết của người anh thứ năm trở thành bước ngoặt, khiến ông quyết định định cư tại quê mẹ là Hương Sơn.
Lại do phiền não quấy nhiễu, thân thể suy nhược, ông từ bỏ khoa cử, chấp nhận điều trị bởi Trần Độc, một người trong giới y lâm. Sau hơn một tháng thì khỏi bệnh. Trong số các y thư ông đọc có 《Phùng thị cẩm nang bí lục》 (Thanh – Phùng Triệu Chương soạn, bản in đầu năm 1702; gồm 8 bộ, tổng cộng 59 quyển, là y thư toàn tập), nhờ đó ông có sự hiểu biết sâu sắc về học thuyết âm dương trong y học, và hoàn toàn kế thừa y thuật của Trần Độc.
Năm 1756, ông lên kinh đô tìm thầy học y nhưng không toại nguyện, lại trở về Hương Sơn, tiếp tục đọc sách và hành nghề y tại đây hơn mười năm. Sau đó, dựa trên kinh nghiệm bản thân và kết quả nghiên cứu, ông biên soạn 《Lãn Ông tâm lĩnh》. Những tư liệu tiểu sử nói trên đều xuất phát từ ghi chép ở quyển cuối của tác phẩm này.
Cuốn sách được khắc in dựa trên bản thảo tự bút, trong khoảng 1880–1885, với nhan đề 《Hải Thượng Y tông tâm lĩnh》, gồm 28 tập, 66 quyển, do chùa Đồng Nhân (Bắc Ninh) khắc in. Căn cứ vào niên đại các lời tựa từng quyển, có thể biết tác phẩm được viết trong khoảng 1770–1780.
Theo mục lục tổng quát của sách, tên các quyển và nội dung như sau:
- Lời tựa,
- Quyển đầu – “Y nghiệp thần chương”: kinh nghiệm hành nghề y suốt đời.
- Quyển 1 – “Nội kinh yếu chỉ tập”: luận về âm dương, kinh mạch.
- Quyển 2 – “Y gia quan miện tập”: sự tích các danh y tiền đại.
- Quyển 3–5 – “Y hải cầu nguyên tập”: lý luận y học.
- Quyển 6 – “Huyền tẫn phát vi tập”: luận trị bệnh.
- Quyển 7 – “Khôn hóa thái chân tập”: y lý và phép trị bệnh.
- Quyển 8 – “Đạo lưu dư vận tập”: y luận.
- Quyển 9 – “Vận khí bí điển tập”: vận khí học.
- Quyển 10–11 – “Dược phẩm vựng yếu tập”: luận dược tính bản thảo.
- Quyển 12–13 – “Lĩnh Nam bản thảo tập”: luận dược tính Nam dược.
- Quyển 14 – “Ngoại cảm thông trị tập”: bệnh ngoại cảm và phương pháp trị.
- Quyển 15–24 – “Bách bệnh cơ yếu tập” (hiện chỉ còn quyển 17, 18): nguyên nhân bệnh và phép trị.
- Quyển 25 – “Y trung quan kiện tập”: yếu điểm của y học.
- Quyển 26–27 – “Phụ đạo xán nhiên tập”: phụ khoa.
- Quyển 28 – “Tọa thảo lương mô tập”: sản khoa.
- Quyển 29–32 – “Ấu ấu tu tri tập”: nhi khoa.
- Quyển 34–43 – “Mộng trung giác đậu tập”: bệnh đậu mùa.
- Quyển 44 – “Ma chẩn chuẩn thằng tập”: bệnh sởi.
- Quyển 45 – “Tâm đắc thần phương tập”: các phương thuốc hiệu nghiệm.
- Quyển 46 – “Hiệu phỏng tân phương tập”: phương thuốc tự sáng chế.
- Quyển 47–49 – “Bách gia trân tàng tập”: phép trị và phương hay của các danh y tiền bối.
- Quyển 50–57 – “Hành giản trân nhu tập”: phép trị và đơn thuốc cho các bệnh thường gặp.
- Quyển 58–60 – “Y phương hải hội tập” (hiện chỉ còn quyển 58): tập hợp y phương.
- Quyển 61 – “Y dương án tập”: y án trị khỏi.
- Quyển 62 – “Y âm án tập”: y án không trị được.
- Quyển 63 – “Truyền tâm bí chỉ tập (châu ngọc cách ngôn)”: kinh nghiệm và châm ngôn y học.
- Quyển 64 – “Vấn sách tập”: khuyết.
- Quyển cuối – “Thượng kinh ký sự tập”: ghi chép khi lên kinh đô Thăng Long, thơ xướng họa, tự truyện, v.v.
Như đã trình bày, theo mục lục, sách gồm quyển đầu, quyển cuối và quyển 1–64, tổng cộng 66 quyển; tuy nhiên, bản hiện còn khuyết rất nhiều quyển, số lượng thực tế được khắc in có lẽ chỉ khoảng 60 quyển (bản khắc in hiện còn đúng 55 quyển -ND). Dẫu vậy, với tư cách là một bộ y thư đồ sộ do một người biên soạn, đây có thể xem làbộ sách lớn nhất trong lịch sử y học Việt Nam, và ngay cả ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên cũng là trường hợp hiếm thấy.
Do sách được xuất bản khoảng 100 năm sau khi Lãn Ông qua đời, nên từng nảy sinh nghi vấn liệu có thực sự do một người viết hay không. Tuy nhiên, xét các lời tựa từng quyển và nội dung toàn thư, trước sau thống nhất, trình độ cao, cho đến nay chưa phát hiện dấu hiệu có tác phẩm của người khác xen vào.
Công lao của cuốn sách này có thể tổng hợp thành ba điểm:
- Trình bày hệ thống y học Trung Hoa sau khi đã được Việt Nam hóa, đồng thời làm rõ các đặc trưng của hệ thống ấy.
- Trên cơ sở tư tưởng của Tuệ Tĩnh là “dùng Nam dược để chữa bệnh cho người Việt”, đã hệ thống hóa công dụng và phương thuốc của dược liệu bản địa, đồng thời sáng tạo ra các phương pháp và phương thuốc điều trị mới.
- Thu thập các y án trị khỏi (“dương án”) đối với bệnh khó, đồng thời cũng ghi lại các y án không trị khỏi (“âm án”), để lại tư liệu tham khảo quý giá cho hậu học.
Tác phẩm này ghi chép đầy đủ lý luận và phương pháp điều trị, đặc biệt nhấn mạnh Nam dược hiệu nghiệm, cùng cách dùng và phương thang, qua đó hoàn thiện một nền y học Việt Nam có tính hệ thống. Ngay từ khi chưa được khắc in, sách đã được nhiều y thư Việt Nam trích dẫn; một số bản chép tay hoặc bản trích sao tinh tuyển đã lưu hành rộng rãi, ảnh hưởng vô cùng to lớn.
Vì vậy, cần phải đánh giá một cách chính xác Lãn Ông – một y gia tiêu biểu, có vị trí đặc biệt trong lịch sử y học Việt Nam.
3-6. Các y thư của Nguyễn Gia Phan
Tiến sĩ Nguyễn Gia Phan (1749–1829) [9] cũng là tác giả của năm bộ y thư gồm:
Thai sản điều kinh phương pháp, Lý âm phương pháp thông lục, Hộ nhi phương pháp thông lục, Liệu dịch phương pháp toàn tập, và Y gia phương pháp tổng lục.
Cuối thời Lê, họ Trịnh – dòng họ nắm thực quyền – suy yếu dần qua nhiều đời. Gia tộc Tiến sĩ Nguyễn Gia Phan nối tiếp ba đời, trong đó có người hành nghề y. Ông từng biên soạn sách về thai sản (năm 1777) để dùng trong cung đình. Năm 1786, Nguyễn Gia Phan về quê, do các sách ông dâng cho họ Trịnh còn thiếu phần hậu sản, nên đã dùng chữ Hán biên soạn sách sản khoa Thai sản điều kinh phương pháp [10].
Bản sách này (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu VHv.2069) có nội dung chia thành: quan hệ giữa thai nhi và kinh mạch từ tháng thứ nhất đến tháng thứ mười của thai kỳ; phương pháp dự đoán trai gái; dùng thuốc khi lâm sản. Ngoài ra còn có các thiên: thuyết minh hình tượng thai nhi từ tháng 1 đến tháng 10; điều kinh, cầu tự; bí quyết giao hợp kết thai; bí quyết chưa đủ ba tháng chuyển nữ thành nam, v.v. Mỗi thiên đều có luận thuyết, phương thuốc và các ca trị nghiệm.
Sách chủ yếu dẫn dụng các y thư Trung Quốc như: Tế Âm cương mục, Phụ nhân lương phương, Chứng trị chuẩn thằng, Cảnh Nhạc toàn thư, Phùng thị cẩm nang bí lục, Thọ thế bảo nguyên, Vạn bệnh hồi xuân…, qua đó có thể biết đây đều là những sách được giới y học đương thời ưa đọc.
Đến năm Gia Long thứ 13 (1814), Nguyễn Gia Phan dùng chữ Hán biên soạn chuyên thư phụ khoa Lý âm phương pháp thông lục gồm 4 quyển (nay còn 2 quyển, Viện Nghiên cứu Hán Nôm ký hiệu A.2853). Sách có lời tựa đề năm 1788, nên có thể là bản tăng bổ của Thai sản điều kinh phương pháp; nội dung cũng phần lớn trích dẫn từ y thư Trung Quốc. Trong quá trình biên soạn sách này, ông đã trích phần nhi khoa trong Thai sản điều kinh phương pháp để biên thành sách Hộ nhi phương pháp thông lục.
Cũng trong năm 1814, ông hoàn thành sách chuyên trị ôn dịch Liệu dịch phương pháp toàn tập gồm 2 quyển. Theo bản chép tay của sách này (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, A.1306), lời bạt của Ứng Xuyên Bá (1816) cho biết sách được viết dựa trên các kinh nghiệm trị liệu của Nguyễn Gia Phan trong các trận đại dịch năm 1789 và 1814. Sách dẫn dụng trước tác của các y gia Trung Quốc như Trương Cảnh Nhạc, Phùng Triệu Trương, Triệu Hiến Khả, Ngô Miễn Học…, cho thấy các y thư Trung Quốc này đều là sách thông dụng thời bấy giờ.
Ngoài ra, trong lời tựa của Lý âm phương pháp thông lục có ghi: “tự soạn Y gia phương pháp tổng lục”, nhưng hiện chưa thấy sách này.
(Xem tiếp kỳ sau)

Bài viết mới nhất
Ứng dụng Google store
Cây thuốc Đà Nẵng
Lượt truy cập
- Đang online: 1
- Hôm nay: 15
- Tất cả: 59814
