ĐÔNG Y SĨ ĐÀM THI – BÁC TÁM LIÊN HOA
16/01/2026
ĐÔNG Y SĨ ĐÀM THI – BÁC TÁM LIÊN HOA (1913-1998)

Cách đây hơn ba mươi năm, khi mới chập chững vào nghề Đông y, tôi được nghe nhiều về Bác Tám Liên Hoa (tên thường gọi của Đông y sĩ Đàm Thi), một bậc thầy nổi tiếng từng dạy châm cứu cho hàng ngàn học trò ở khắp miền Nam từ những thập niên 70, 80 thế kỷ trước.
Được biết nhiều lương y đàn anh ở khu vực Cẩm Lệ và Hòa Vang như Lê Thanh Đào, Lê Thanh Tòng, Nguyễn Cần, Lê Quý, Nguyễn Đức Trinh, Đinh Thanh Tường … đã từng học châm cứu trong các khóa ngắn hạn tại Đà Nẵng, hay dài hạn tại cơ sở Phòng chẩn trị Châm cứu chùa Tam Tông Miếu ở Sài Gòn, đều được Đông y sĩ Đàm Thi cấp giấy chứng nhận. Tôi đã mượn các tài liệu, ghi chép của các lương y về nghiên cứu, và về sau đã phát hiện ra giáo trình lý thuyết châm cứu của Đông y sĩ Đàm Thi chính là sách Châm cứu trị liệu học của Thừa Đạm Am do Lương y Lương Trọng Hối dịch sang tiếng Việt (dưới dạng bản thảo đánh máy, chưa xuất bản).
Một dịp may đến với tôi, có lần bác Tám Liên Hoa về Cẩm Lệ thăm con nuôi là chị Hai Nguyệt (là chị ruột thím em dâu trong họ của tôi) đang ốm, được một người quen dẫn ra tiệm thuốc của tôi mua mấy vị thuốc bắc. Tôi tranh thủ nhờ bác xem giúp bản dịch Tế Âm Thông Huyền Phú trong sách Vạn Thị Phụ Nhân Khoa. Thấy tôi đam mê Hán văn Đông y và mày mò dịch được đôi chút, bác Tám có hứa nếu vào Sài Gòn ghé chùa Tam Tông Miếu, bác sẽ cho mượn một số sách quý về tham khảo.
Được lời như cởi tấm lòng, vào dịp cuối năm 1995, khi lương y Thái Đờn vừa vận động thành lập Câu lạc bộ Đông y Quảng Nam – Đà Nẵng, tôi đã lãnh ấn Nam du tìm gặp một số danh sư như Lương y Nguyễn Trung Hòa, Bác sĩ Trương Thìn, Bác sĩ Trần Văn Kỳ… ở Sài Gòn, Châm cứu sư Vương Sanh ở Sông Bé để xin tài liệu học tập cho Câu lạc bộ. Tất nhiên, điểm đến đầu tiên của tôi khi vừa đến Sài Gòn chính là chùa Tam Tông Miếu ở số 82 Cao Thắng, quận 3.
Đón tôi tại Tam Tông Miếu, Bác Tám đã dẫn tham quan chùa và phòng khám bệnh châm cứu từ thiện, hôm đó không phải ngày phòng khám làm việc, nên tôi chỉ lướt qua thấy hơn mười cái giường châm cứu. Bác Tám có đưa tôi xem một quyển sổ cái khá dày lưu lại danh sách hàng ngàn học viên Bác đã đào tạo và cấp giấy chứng nhân học nghề châm cứu, ghi đầy đủ họ tên, tuổi, địa chỉ và kèm tấm ảnh thẻ dán vào đó. Bác cho biết có nhiều học trò đã ra nước ngoài và vẫn tiếp tục hành nghề châm cứu. Sau đó bác đã lục lấy trong tủ sách khá đồ sộ, giao cho tôi 10 cuốn, chủ yếu sách chữ Hán, như Y học nhập môn, Châm cứu đại thành, Thọ thế bảo nguyên, Vạn bệnh hồi xuân, Đông y bảo giám, Bách bệnh đơn phương, Bốc phệ chính tông, Đoán dịch đại toàn, và vài cuốn tiếng Việt là Trung y học khái luận và Cảm xạ học. Tôi có ghi giấy liệt kê số sách mượn, đưa cho Bác.
Giữa thời đói sách, được mượn mớ sách đó về mày mò quả là quý như vàng. Tuy nhiên sức đọc có hạn, nên về sau tôi chỉ photocopy sao lại mấy cuốn thiết thực là Đông y bảo giám và Vạn bệnh hồi xuân. Số sách còn lại mấy năm sau, khi bác Tám lâm trọng bệnh về tịnh dưỡng ở Nhà Tịnh (Đà Nẵng), tôi đã gởi trả lại theo yêu cầu của Bác.
Ngày Bác Tám mất, mùng Mười tháng Ba năm Mậu Dần (1998), tôi có đến Hội Thánh Truyền Giáo viếng và sau đó đưa tiễn Bác về tận nơi an nghĩ cuối cùng.
Trước đó vài năm, khi Bác Tám còn khỏe, có lần Bác nhờ tôi chở xe máy về Hội An thăm gia đình và một vài người trong họ đạo, nên cũng biết qua gia cảnh khó khăn cũng như nội tình bất lực trong công cuộc vận động thống nhất các chi phái Cao Đài giáo mà Bác ra công gánh vác nhưng bất thành.
Không chỉ là danh y, Bác Tám Liên Hoa còn là đạo trưởng khả kính trong hai giáo hội là Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài ở Đà Nẵng và Hội Thánh Minh Lý Tam Tông Miếu ở Sài Gòn.
Dưới đây là những dòng tiểu sử chính thức được tôi chép lại từ tài liệu Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài:
Đạo Trưởng Liên Hoa tên thật là: Đàm Thi sinh ngày 24/4/ Quý Sửu (29/5/1913). Tại Hội An, Điện Bàn, Quảng Nam.
Nhập môn vào đạo năm 1927 tại Thánh Thất Cầu Kho – Sài Gòn. Trường trai từ năm 1928 đến cuối đời.
Từ khi nhập môn Đạo Cao Đài, Ngài một long tu tâm học đạo hành đạo trong sự chỉ dẫn của thiêng liêng và chư vị tiền bối ban đầu.
Đến năm 1933, Ngài được khai khiếu Đồng tử và được ban đạo hiệu là Liên Hoa Đồng Tử.
Kể từ lúc này, Ngài chính là công cụ đắc dụng của Thượng Đế trong công cuộc truyền đạo kỳ 3, xiển dương Chánh pháp.
Thời gian này, Ngài tham gia cùng với quý vị Huệ Lương Trần Văn Quế, Ngài Nguyễn Phan Long trong nhóm Liên Hòa Tổng Hội vận động thống nhất giáo hội, nối kết tình thương bắt tay chung nhau xây dựng xiển dương Đạo Thầy. 12 Đại Hội Long Vân được thành lập nhằm mục đích đó.
Những năm 1940, thời kỳ Pháp khủng bố Đạo Cao Đài, đóng nhiều cửa Chùa Thất, tịch thu kinh sách, bắt bớ Chức sắc. Đạo Trưởng phải chạy về lại vùng quê Quảng Nam.
Từ năm 1942, quay lại Sài Gòn hoạt động đạo và tiếp tục bị Pháp khủng bố truy nã, dưới sự hộ trì của Ơn Trên Ngài đã về lại quê hương Quảng Nam an toàn và từ đây Ngài tham gia hoạt động thường xuyên cùng quý chức sắc trong Cơ Quan Truyền Giáo Trung Kỳ.
Trong công cuộc hoạt động truyền đạo tại Trung Kỳ. Đạo Trưởng đã bị khủng bố, bắt bớ, tù đày nhiều lần với những án không căn cứ. Nhưng vẫn một lòng “chí tu” từ ngục thất đến mãn hạn.
Đến năm 1956, Thành Lập Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài, Khánh thành Trung Hưng Bửu Toà – Đà Nẵng. Đạo Trưởng vẫn tiếp tục với phận sự Đồng Tử. Tiếp nhận hồng thệ lãnh nhận Sứ mệnh Trung Hưng.
Sau Lễ Khánh Thành Trung Hưng Bửu Tòa Ngài được Ơn Trên Thiên phong phẩm vị Tiếp Cơ Quân. Được Hội Thánh cử giữ chức Đại diện Chi Đạo Hiệp Thiên Đài.
Với Cơ Đạo Trung Hưng. Ngài được Ơn trên đặc truyền Bửu Pháp luyện châu. Chỉ truyền pháp tu. Huấn luyện Đồng tử …
Đến năm 1965, Đạo Trưởng vâng lệnh Ơn Trên vào Sài Gòn tham gia sinh hoạt cùng Hội Thánh Minh Lý với nhiệm vụ Trưởng Ban Thông Công Khai Cơ Lập Pháp, Tham Lý Giáo Vụ của Hội Thánh Minh Lý tại Tam Tông Miếu.
Năm 1967, Đạo Trưởng được Đức Đông Phương Lão Tổ Phong phẩm vị Thanh Tịnh Sư hàng ngũ chức sắc cao cấp của Minh Lý Đạo.
Năm 1972, Đạo Trưởng mặc dầu với nhiều công tác đạo trong ngoài các nơi. Nhưng Đạo trưởng vẫn luôn tích cực gánh vác các nhiệm vụ khó khăn cùng Hội Thánh Truyền Giáo trong sự nghiệp sứ mệnh Trung Hưng.
Năm 1973, Đàn cơ tại Minh Lý Đạo Trưởng được phong Quyền Khiết Tịnh Sư.
Trong phận sự thông công ngoài sự tiếp nhận bao lời giáo huấn vàng ngọc từ Thiêng liêng. Đạo Trưởng còn được Ơn Trên bố điển chấp cơ phò loan được các bộ Kinh sách quý giá như:
Đại Thừa Chơn Giáo, Kinh Dịch Huyền Nghĩa, Minh Lý Chơn Giải, Đạo Học Chỉ Nam …
Trong phần phước thiện Thế đạo: Ngài đã mở các Lớp học Châm Cứu, các Phòng mạch Phước Thiện, hành y miễn phí chữa trị cứu giúp bệnh nhân nghèo.
Sau năm 1975, cơ Đạo chú trọng phần nội tâm, Ngài chuyên tâm tịnh luyện nghiên cứu đạo học, tham gia sinh hoạt hành đạo vừa Minh Lý và Hội Thánh Truyền Giáo. Chí tâm chung lo xây dựng hàng ngũ chức sắc, củng cố đức tin đạo đồ qua những năm biến động.
Đến năm 1989, Ngài lãnh thêm nhiệm vụ quản lý Tịnh Đường – Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài, nơi truyền pháp, tu luyện cho chức sắc và bổn đạo.
Đến năm 1996, Ngài giữ chức vụ Phó Chủ Tọa Hội Đồng Lưỡng Đài Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài.
Tuổi cao sức khỏe suy giảm dần qua những năm tháng xuôi ngược vào Nam ra Trung hành đạo.
Đạo Trưởng đã từ giã cõi trần vào lúc 10/3/Mậu Dần (6/4/1998) tại Trung Hưng Bửu Tòa.
Bài viết này thay lời tri ân một bậc trưởng thượng mà tôi có cơ duyên gặp gỡ trên con đường học y. Rất tiếc do sự hạn chế tư liệu nên có thể không đầy đủ. Mong quý huynh đệ đồng nghiệp từng có cơ duyên học trực tiếp với Đông y sĩ Đàm Thi bổ túc cho khiếm khuyết khó tránh khỏi.
Đà Nẵng, Trọng Đông, Ất Tỵ
16/01/2026
PHAN CÔNG TUẤN

Chùa Tam Tông Miếu nơi gắn bó cuộc đời tu đạo hành y của Bác Tám Liên Hoa

Bài viết mới nhất
Ứng dụng Google store
Cây thuốc Đà Nẵng
Lượt truy cập
- Đang online: 1
- Hôm nay: 84
- Tất cả: 59798
